PDA

View Full Version : Keith William Nolan – Huế, Trận đánh Mậu Thân



ld6bdq
01-30-2015, 01:04
Keith William Nolan – Huế, Trận đánh Mậu Thân

http://i57.tinypic.com/15cofgz.jpg

Bút ký về trận đánh kéo dài 26 ngày Tết Mậu Thân năm 1968 ở Huế
Keith William Nolan

hoànglonghải dịch

Vài lời của người dịch:

Có hai lý do chính thúc đẩy tôi dịch tác phẩm nầy. Thứ nhất là vì chúng ta biết ít về việc người Mỹ đã chiến đấu ở Việt Nam như thế nào. Tôi là nạn nhân trận đánh Tết Mậu Thân ở Huế, tuy có theo dõi và quan sát tình hình xảy ra tại chỗ và qua báo chí, đài phát thanh, cũng như trong thời gian phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, làm phóng sự phát thanh, phục vụ trong ngành Cảnh Sát Quốc Gia, tại những vùng quê xa xôi hẻo lánh; tôi cũng không rõ lắm về những người lính Mỹ đã chiến đấu, chịu nguy hiểm, thương vong như thế nào.
Có lẽ điều đó không riêng gì tôi mà thôi. Do đó, tôi dịch cuốn sách nầy để người Việt chúng ta thấy người lính Mỹ đã chiến đấu và hy sinh ra sao, đã giải phóng những vùng ở Huế bị Việt Cộng chiếm đóng và giết chóc đồng bào như thế nào.
Ngày 9 tháng Giêng âm lịch Tết Mậu Thân, khi Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đẩy quân Việt Cộng ra khỏi Bến Ngự, đồng bào khu vực nầy lánh nạn về trường Kiểu Mẫu Huế. Họ vui mừng biết bao nhiêu. Chính tôi cũng như bạn bè gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi, vì vừa thoát khỏi vùng tử địa. Chính gia đình của nhạc sĩ phản chiến Trịnh Công Sơn cũng từ khu nhà cho thuê của Giám Mục Ngô Đình Thục bên cạnh cầu Phú Cam cũng chạy về đây lánh nạn.
Thứ hai là vì gần đây, trong cuộc tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2004, báo chí và truyền hình Mỹ nhắc lại quá trình hoạt động của ông John Kerry, Thượng Nghị Sĩ. Sau khi tham chiến ở Việt Nam về, ông John Kerry tham gia phong trào phản chiến ở Tiểu Bang Massachusetts, tố cáo rằng lính Mỹ ở Việt Nam đã bắn giết bừa bãi cả trẻ con, đàn bà, hãm hiếp phụ nữ và cướp bóc. Tất cả những gì mà quân đội viễn chinh Pháp (trong đó có người Ma-Rốc, Senegal, v.v…) đã làm trong cuộc chiến tranh Việt Pháp 1945-54, nay ông John Kerry đổ hết lên đầu những chú lính GI của Quân Đội Hoa Kỳ. Đó là một sự vu cáo trắng trợn, bôi đen Quân Đội Mỹ.

Đọc lời dẫn nhập trong phần sau đây, độc giả sẽ thấy những người lính Mỹ sau khi tham chiến ở Việt Nam, họ phải gánh chịu một tình cảnh hẩm hiu và đáng thương như thế nào. Điều đó, một phần nào đó là do lỗi chính ở ông John Kerry và những người trong phong trào phản chiến của ông ta vậy.

Massachusetts
tháng 9/04
tuệchương



Dẫn nhập
So với cuộc chiến tranh nổi tiếng như Thế Giới Chiến Tranh thứ Hai mà Mỹ đã tham gia thì ngày nay, trận đánh ở Huế vẫn là một tên tuổi gần gũi. Hơn thế nữa, những người sống sót trở về, thay vì được hoan hô như những anh hùng, và những ai đã ngã xuống phải được tưởng nhớ, thì những điều ấy đã không thành hiện thực. Những người Mỹ từng chiến đấu ở Huế là một phần của một thế hệ kém may mắn, những người chính đất nước họ không thể tách rời chiến tranh ra khỏi chiến binh, và họ là những người bị xa lánh vì đã không từ chối khi trách nhiệm đến với họ. Tuy nhiên, đối với chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến không được dân chúng mong muốn, người dân Mỹ tuồng như quên rằng binh lính của họ đã từng chịu đựng nhiều nỗi gian khổ và thiếu thốn như những người đi trước họ, những người từng được tán dương mạnh mẽ trong Thế giới Chiến tranh thứ Hai.
Cuốn sách nầy (The Battle for Hué) tập trung nói lên những nỗi gian khổ ấy, – một cuộc chiến tàn bạo, kéo dài suốt một tháng, đánh nhau từ nhà nầy qua nhà khác, chính yếu bằng ba đại đội thiếu quân số và thiếu trang bị, thuộc các tiểu đoàn bộ binh Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (TQLC/ HK).
Khi các người lính TQLC/ HK đang đánh nhau với kẻ địch ở Huế hồi ấy, tôi mới có ba tuổi. Khi lớn lên thì cuộc chiến đó càng lúc càng mờ nhạt, xa xôi mà người ta coi đó như là những gì xấu xa. Trong niềm im lặng ấy, – pha hợp phức tạp bằng vẻ khiếm nhã của các thầy giáo có trí óc cởi mở của tôi, khi nói về vụ Mỹ Lai, và với những cựu chiến binh nghiện ma túy và thần kinh rối loạn, – đã làm nảy sinh trong tôi sự yêu thích đề tài chiến tranh nầy. Điều làm tôi băn khoăn là nhiều đồng bào tôi chẳng thể chịu đựng được nhiều như thế, hoặc rất ít người quan tâm tới. Điều làm tôi băn khoăn nữa cũng là việc những người bỏ trốn qua Canada hay ở nơi nào đó, để khỏi tham gia chiến tranh Việt Nam, tán dương lòng nhân đạo của họ, trong khi những người không trốn chạy thì phải đối đầu với gian khổ và hiểm nguy một năm trong chiến tranh địa ngục Việt Nam, những người đó bị coi là đã bắn giết đàn bà trẻ em, nghiện hút và non nớt, dễ bịp.
Tôi bắt đầu tìm kiếm tài liệu cho đề tài tôi ưa thích và tôi tìm được một nguồn tài liệu độc nhứt nhưng thực sự quan trọng: Những người từng có mặt tại trận chiến đó.
Dĩ nhiên cuốn sách nầy được viết bằng cách phỏng vấn những người đó, là một câu chuyện lịch sử nói về thời điểm, chiến thuật, đơn vị, tiếp liệu và những gì đã tạo ra cuộc chiến ở Huế.
Nhưng những tài liệu hữu ích của các cựu chiến binh nầy, còn có thể nói lên thêm vài điều nữa. Nó mô tả sự hiện hữu hằng ngày của các chiến binh TQLC trong trận chiến dài một tháng đó, những nỗi sợ hãi, chiến thắng, bạn bè mất mát, tình chiến hữu, chán nản và mệt mỏi. Tôi được may mắn nói chuyện với các vị chỉ huy trong trận đánh Huế, lại càng may mắn hơn được nói chuyện với những người lính bộ binh. Cuốn sách nầy hầu hết nói về họ, về trận chiến được nhìn bằng chính mắt họ vậy.
Tôi vẫn thường nhớ ơn một cách sâu xa những cựu chiến binh đã giúp tôi hoàn tất tác phẩm nầy. Tôi cũng từng nói chuyện với những người không ở Huế, và tinh thần những cuộc nói chuyện đó được ghi lại trong sách nầy. Tôi có cơ may chuyện vãn với khoảng 3/4 cựu chiến binh tham dự trận đánh Huế. Một số những người đó, ngày nay là các tướng lãnh, mặc dù rất bận bịu, cũng dành thì giờ xem lại bản thảo của tôi, cũng như rà soát lại tin tức tôi có được. Những người khác, những người lúc ấy còn trẻ, đã giúp tôi công việc nầy, ngay từ khi bắt đầu và kéo dài suốt nhiều năm. Tôi xin cám ơn tất cả mọi người. Tôi xin bày tỏ lòng cám ơn sự giúp đỡ của họ cũng như niềm tin đã đưa tới một kết luận vững chắc.
Các cựu chiến binh đặc biệt giúp đỡ hoàn thành cuốn sách nầy gồm có:
-Tướng William C. Westmoreland (hồi hưu),
-Tướng Foster C. LaHue (hồi hưu), tướng John J. Tolson (hồi hưu).
-Đại tá Frank Breth, đại tá James Coolican, đại tá Marcus J. Gravel, đại tá Robert H. Hamilton (hồi hưu), đại tá Myron C. Harrington, đại tá Edward J. LaMontagne (hồi hưu), đại tá Wayne R. Swenson, đại tá Robert H. Thompson (hồi hưu).
-Trung tá Gordon D. Batcheller, trung tá Terry Charbonneau, trung tá William Harvey, trung tá Ralph J. Salvati (hồi hưu)
-Thiếu tá James V. DiBernardo (hồi hưu), thiếu tá Harold Pyle (hồi hưu).
-Đại úy Dale A. Dye, William Dickman,
-Trung sĩ Frank Thomas, trung sĩ Joseph L. McLaughlin (hồi hưu), trung sĩ Paul Thompson (hồi hưu), trung sĩ Josef Burghardt (hồi hưu), trung sĩ Richard W. Carter, trung sĩ Edward F. Neas, trung sĩ Steve Berntson (hồi hưu).
-Thiếu úy Richard Lyons (hồi hưu), thiếu úy Patrick Polk (hồi hưu).
-Hạ sĩ Dan Allbritton (hồi hưu), Peter Braestrup, hạ sĩ Bill Jackson (hồi hưu), hạ sĩ Edward Landry (hồi hưu), hạ sĩ Lewis C. Lawhorn (hồi hưu), hạ sĩ Brian Mayer (hồi hưu), George Schamberger (hồi hưu), và Don Webster.
-Đặc biệt chân thành cám ơn Tướng O.K. Steele (ra trường cùng lớp và cùng năm 1956 với thân phụ tôi, William F. Nolan). Khi là đại tá, làm chỉ huy trưởng một đơn vị Hải Quân đóng tại Washington D.C. Năm 1981, Steele mời tôi đến sống hai tuần với gia đình ông ngay trong doanh trại quân đội. Đó là một cuộc thăm viếng kỳ lạ. Tướng Steele không những kể cho tôi nghe những hồi ức của ông về Huế, chỉ cho tôi thấy hướng thành công do TQLC đạt được, và sắp đặt cho tôi phỏng vấn Bill Harvey và Harold Pyle.
-Cũng xin bày tỏ lòng cám ơn với Trung Tâm Tư Liệu Lịch Sử Binh Chủng TQLC tại Washington D.C., đã cung cấp cho tôi vô số tin tức cũng như tài liệu liên quan đến TQLC tại Việt Nam. Hai vị trong cơ quan nầy, tướng hồi hưu Edwin H. Simmons và Robert Skidmore đã tận tình giúp đỡ và khuyến khích tôi trong suốt mấy năm tôi tìm kiếm tư liệu ở đây./
Keith W. Nolan
Tháng Tám 1983



http://i61.tinypic.com/2mmdafa.jpg

Lời Nói Đầu

Huế, cũng như Saigon, tới đêm thứ hai mới bị tấn công. Và cũng như Saigon, Huế chẳng chuẩn bị gì để đối phó với địch mặc dù được báo động trước một ngày. Dù vậy, những người bảo vệ Huế không đủ khả năng chống lại những người tấn công họ. Cộng Sản đã đạt được những điểm tựa vững chắc và hoàn thành mục tiêu của họ.
Thực ra, Huế có hai thành phố: Khu Nội Thành, thường được gọi là Thành Nội Huế, là một pháo đài có tường thành bao bọc, theo kiểu hoàng thành Bắc Kinh. Một khu vực tường cao và vuông vức, mỗi cạnh dài khoảng hai dặm Anh, nằm bên bờ sông Hương, một thời là nơi sinh hoạt của các vị “hoàng đế An-Nam”. Ở đây có nhiều kiến trúc cổ và tôn kính, gồm cả kỳ đài Ngọ Môn và điện Thái Hòa. Một trong những ít ỏi đền đài văn hóa của người Việt Nam, bao bọc che chở bằng một tường thành cao mười sáu bộ và bề dày tường thành thay đổi từ sáu mươi đến trên hai trăm bộ.
Tướng Ngô Quang Trưởng (năm 1968 là đại tá – ngd), Tư Lệnh Sư Đoàn 1, làm lễ thượng kỳ tại thành Mang Cá, (bộ Tư Lệnh Sư Đoàn) vào sáng ngày 30 tháng Giêng dương lịch, để kỹ niệm ngày đầu năm âm lịch. Ngay sau đó, ông ta nhận được nhiều tin dữ, báo cho biết quân Cộng Sản tấn công nhiều nơi trong nước. Một cách thận trọng, nhưng không biểu lộ lo lắng quá đáng, ông ra lệnh báo động toàn sư đoàn và chỉ thị cho quân nhân phục vụ tại Bộ Tư Lệnh cấm trại đêm hôm đó. Hành động cẩn mật nầy làm cho Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn không bị thiệt hại gì và toàn bộ sư đoàn không rơi vào tình trạng đột ngột. Mặc dù tướng Trưởng không biết, nhưng đặc công Cộng Sản đã xâm nhập vào thành phố từ hai ngày trước và đang chờ hai trung đoàn Cộng Sản từ bên ngoài tấn công vào.
Những trung đoàn nầy, trung đoàn 5 do trung tá Nguyễn Vân chỉ huy, và trung đoàn 6 do trung tá Nguyễn Trọng Dần chỉ huy, bí mật tiến về Huế trong lúc tướng Trưởng làm lễ chào cờ đầu năm. Nhìn chung, tám tiểu đoàn của hai trung đoàn nầy, gồm bảy ngàn rưởi binh lính, kể chung cả quân Việt Cộng Miền Nam và Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) đảm nhận việc đánh chiếm thành phố Huế.
Vào khoảng hai giờ sáng, binh lính của Dần, nhờ sương mù dày đặc và hướng dẫn viên đưa vào thành phố đã bí mật tới được vùng ngoại ô Huế, rồi tiến thẳng vào mục tiêu: Thành Nội Huế.
Vào lúc 3giờ 40 phút sáng họ tiến tới một khu vực, làm cho lính canh hoảng hốt, ngạc nhiên, và tức khắc quân Cộng Sản thiết lập được một đầu cầu. Trong khi đó, binh lính trung đoàn 5 của trung tá Vân, bị trì hoãn vì lọt vào một cuộc phục kích của Quân Đội VNCH. Họ phải vội vàng chống trả một toán quân nổi tiếng thiện chiến. Vì vậy, tới sáng, hai trung đoàn chỉ chiếm được có một phần Thành Nội. Họ không thể chiếm toàn bộ khu nội thành mà phải chia phần trong với những người lính chiến đấu một cách dũng cảm của tướng Trưởng. Khoảng hai tiểu đoàn quân số và trang bị đầy đủ chiếm đóng phần trọng yếu trong Thành Nội. Trong khi hai tiểu đoàn nầy lo củng cố vị trí mới chiếm được thì các tiểu đoàn khác củng cố vị trí của họ bên ngoài thành phố, đặc biệt ở khu hữu ngạn (phía nam) sông Hương. Tới 8 giờ sáng, các sĩ quan Đồng Minh cảm thấy buồn phiền khi một lá cờ to của Cộng Sản ngạo nghễ bay trên cột cờ Ngọ Môn.
Ngay lập tức, lực lượng Đồng Minh phản công.
Hải Quân Mỹ, quân Nhảy Dù, Thiết Giáp Việt Nam Cọng Hòa cố gắng đánh bật quân Cộng Sản ra khỏi thành phố. Họ thất bại. Cố gắng đầu tiên của họ trở thành một mô hình. Ngày hôm sau, các đơn vị Đồng Minh nổ lực đẩy quân Cộng Sản ngoan cố ra khỏi Thành Nội và nới lỏng việc nắm giữ chặt chẽ vùng phụ cận. Tuy nhiên, họ thấy tình hình khó khăn đến nỗi không thể không gánh chịu thương vong nặng nề. Họ cũng hết sức miễn cưỡng phải xử dụng các loại vũ khí có sức tàn phá lớn tại đây, trung tâm văn hóa mà địch quân đã đào hào đắp hố để chống cự. Kết quả là một cuộc chiến đấu căng thẳng, đánh cận chiến qua từng nhà một, vô cùng đẫm máu và kéo dài.

Rút từ “Summons of the Trumpet”
Dave Richard Palmer, Presidio Press, 1978 trang 192-93

(còn tiếp)

ld6bdq
01-30-2015, 17:04
http://i60.tinypic.com/33ww9bs.png

Chương 1

Ra Trận: từ Phú Bài đến Huế

Người lính Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) đã chết, đầu lắc lư, lọt ra khỏi chiếc xe Jeep đang chạy ngang toán lính đi trên con đường bụi mù, tên gọi là Quốc Lộ (QL) 1.
Rich Carter đứng bên đường nhìn theo chiếc xe Jeep biến mất trong bóng đêm ở cuối đường. Quân địch phục kích toán tiền phong của đại đội, giết tiền sát viên, làm bị thương ba người khác. Bây giờ địch quân biến mất, lẫn vô rừng và đêm đen. Bao giờ cũng vậy, kể từ khi Carter về đại đội nầy ba tháng trước, bọn họ không mấy khi thấy địch. Họ chỉ thấy có mìn, bẫy, bắn sẻ, và phục kích; họ thất vọng. Chiến tranh kiểu đó không phải là điều Carter muốn. Carter vào TQLC một tuần sau khi rời trường cấp ba ở Carteret, New Jersey vì bố anh ta là một TQLC, chú anh ta cũng vậy. Mười tám tuổi, anh ta tin chiến tranh, – và anh ta cũng muốn giống như những người đi trước.
Carter đến Việt Nam với đầy nỗi lo ngại, kích động và niềm chua chát của một người lính mới bộ binh. Nhưng rồi mọi sự cũng tới. Những lần tuần tiểu đẫm mồ hôi trên những đám ruộng lúa nắng cháy và những hàng cây xanh bên bờ sông An-Hòa, những cuộc hành quân bình định, đưa dân lên các toa xe, – đàn bà thì khóc, trẻ con thì la hét – rồi đốt cháy các xóm nhà lá. Việt Cộng thì ở khắp nơi nhưng ít khi thấy họ. Carter đã trải qua một đêm tuần tiểu, ngồi trong rừng đêm ẩm ướt, trong khi vài con ma vô hình nào đó tới hét vào mặt anh: Tên độc ác, tối nay mày chết. Có một đêm, toán phục kích của anh bắn chết một Việt Cọng vô tình di chuyển trên đường mòn; tới sáng, cái xác biến mất. Một lần khác, bọn họ lục soát một căn nhà và thấy chiếc nhẫn của một TQLC đã chết. Anh thấy có ba cái bẫy. Trời, những cái bẫy nầy! Lựu đạn buộc vào giây thép giăng ngang, che bằng lon thiếc đựng đồ ăn phần C, buộc với bom hay đạn đại bác không nổ hoặc mìn 30 pound. Tuồng như ở đâu cũng có mìn bẫy. Một hôm, ở trong rừng, Carter nghe một tiếng nổ thiếu đường điếc tai; rồi có tiếng la khiếp đảm: “Y tá lên trước.” Một trái đạn đại bác 155ly ngụy trang phát nổ. Chín TQLC chết. Ngày hôm sau, một TQLC đi dưới hàng cây, dọc theo một con đường nhỏ. Đất dưới chân như nổi sóng, có cái gì đập vào đầu Carter, và khi anh ta lắc đầu cho tỉnh thì anh ta thấy chiếc giày của một người lính văng tới bên cạnh. Chiếc giày đang cháy và bốc khói mà cái chân thì vẫn còn ở trong giày. Anh lính còn ở trên đường mòn, kinh hãi la lên vì thấy chân mình còn mắc trong đất như đóng cọc. Từ đầu gối trở xuống, hai chân anh ta bay mất.
Chiếc xe Jeep chở xác đi rồi. Toán lính xuống đường và bắt đầu bố trí. Họ đào hố cá nhân, đặt mìn claymore chung quanh và chia nhau canh gác. Hạ sĩ Richard Walter Carter thuộc toán súng máy Trung Đội 3, Đại Đội Fox, Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 5, Sư Đoàn 1 TQLC; ai nấy ở trong hố cá nhân, cố ngủ một chút giữa đám muỗi vo ve và những âm thanh rền rĩ của đêm đen.
Đó là đêm 30 rạng ngày 31 tháng Giêng/ 1968.
Còn mấy tiếng đồng hồ nữa thì trận đánh Huế năm Mậu Thân bắt đầu.
Hôm đó, phòng theo dõi truyền tin ở căn cứ Phú Bài trên Quốc lộ 1, phía nam Huế, bắt được làn sóng truyền tin của địch cho biết địch sẽ tấn công vào thành phố Huế. Theo thủ tục, tin điện bắt được nầy không gởi thẳng cho Huế mà báo cáo cho bộ Chỉ Huy Cao Cấp ở Đà-Nẵng để ghi nhận và phân tích. Cùng lúc, tin nầy cũng gởi cho Huế bằng teletype.
Đại úy James J. Coolican, một sĩ quan TQLC tài ba, làm cố vấn cho đại đội Hắc Báo Sư Đoàn 1 Bộ Binh (BB) Việt Nam Cọng Hòa (VNCH), lo ngại vì tình hình có vẽ khác thường. Hôm qua, 29 tháng Giêng, Đại Đội Hắc Báo của ông được xe GMC đưa từ vùng Phi Quân Sự về hậu cứ sau mấy cuộc hành quân ở đó. Tết, năm mới âm lịch – năm 1968 là năm con khỉ – một người Mỹ như ông muốn được hưởng những ngày nghỉ – như người ta thường nói – ngày sinh nhựt, lễ Giáng Sinh, lễ Độc Lập, cứ tiếp nối như vậy… Theo thông lệ, hai bên cùng tuyên bố tạm thời ngưng bắn. Tuy nhiên, trên đường rút quân về chỗ tạm nghỉ, Coolican thấy đường đi rất ít người, chẳng có ai chen lấn, hối hả lo về nghỉ Tết. Có vẻ gì bất thường. Đại úy Coolican biết như thế có nghĩa là địch sắp tấn công.
Nhưng họ sẽ tấn công vào lúc nào và ở đâu?
Bên trong thành phố Huế, tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, Tướng Trưởng (thật ra lúc đó ông Ngô Quang Trưởng còn mang cấp bậc đại tá – ngd) Tư Lệnh Sư Đoàn cũng thấy có điều không ổn. Bộ Tư Lệnh Cao Cấp của Tướng Westmoreland ở Saigon ra lệnh đình chỉ lệnh ngưng bắn theo truyền thống sau khi địch tấn công vào 8 thành phố. Tướng Trưởng là sĩ quan giỏi nhất Quân Lực VNCH. Để đề phòng, ông tập trung tất cả các sĩ quan tham mưu lại trong Bộ Tư Lệnh, ra lệnh báo động trăm phần trăm, và cũng ra lệnh báo động cho các đơn vị đóng bên ngoài thành phố. Dù vậy, một nửa quân nhân của sư đoàn đã được nghỉ phép Tết, hầu hết họ có gia đình ở Huế. Tin tình báo cho biết lực lượng địch khoảng 2 trung đoàn đang tập trung ở phía tây, cách Huế 40 cây số. Ở phía nam Huế, địch quấy rối quận Phú Lộc, vì vậy Tướng Trưởng nghi rằng địch sẽ tấn công Phú Lộc, cố gắng cắt đứt Quốc lộ 1. Ông cho một tiểu đoàn triển khai tác chiến ở vùng nầy.
Tướng Trưởng tiên liệu một cuộc tấn công có thể xảy ra ở xa, và chẳng có dấu hiệu gì Huế sẽ là mục tiêu địch tấn công cả. Đối với người Việt, Bắc cũng như Nam, Huế là thành phố thiêng liêng, vì Huế một thời là kinh đô của Đế Quốc Việt Nam. Trong lịch sử hàng trăm năm đẫm máu của xứ nầy, hai lần Huế là nạn nhân. Lần đầu tiên là vào năm 1883, (1) khi quân Pháp tấn công, trước khi chiếm kinh đô; lần thứ hai là vào năm 1945, khi du kích Cộng Sản cố đè bẹp quân Pháp mà không thành. Thực ra, Huế rất hiền hòa, yên tĩnh. Người ta biết sĩ quan QĐ/ VNCH phải chịu hối lộ mới được đổi về làm việc ở Huế.
Huế là thành phố lớn thứ ba ở Nam VN, dân số 140 ngàn người, nằm cách bờ biển khoảng mười cây số, và cách Khu Phi Quân Sự, nơi có nhiều trận đánh dữ dội một trăm cây số. Huế là thủ phủ của tỉnh Thừa Thiên. Huế có hai phố, cách nhau bằng sông Hương, sông nầy chảy ra biển.
Trên bờ Bắc là khu thành cổ, rộng ba cây số vuông, có các bờ thành bao bọc chung quanh. Thành nầy do một nhà quân sự Pháp và Hoàng Đế Việt Nam vẽ kiểu xây vào khoảng đầu những năm 1800. Chung quanh thành có hào sâu, nước xanh, trồng sen và hết khu nầy đến khu khác là những hàng cây xanh. Trong nhiều thế kỷ trước, chính trong những bức trường thành nầy, hoàng đế cai trị đất nước.
Bên kia hoàng thành, phía bờ nam là khu trú dân, mới hơn. Khu nầy lớn bằng nửa khu hoàng thành và hơi giống hình tam giác, sông Hương ở cạnh bắc; sông đào An Cựu (2) từ sông Hương chảy vào, vòng xuống phía Nam làm thành hình chữ V.
Về mặt quân sự, Huế là thành phố quan trọng. Đường xe lửa và Quốc Lộ 1 chạy ngang qua thành phố nầy, vượt qua sông Hương, mang đồ tiếp liệu từ Đà Nẵng tới khu Phi Quân Sự, và cũng có một điểm tiếp liệu Hải Quân vận chuyển bằng tàu nhỏ từ Huế ra biển. Tuy vậy, thành phố lại khó giữ an ninh. Trong thành nội, góc thành phía bắc là Bộ Tư Lệnh của Tướng Trưởng có thành bao bọc chung quanh. Tại đây, không có đơn vị tác chiến, chỉ có bộ tham mưu và lính phòng vệ. Bên kia sông, phía nam là bến tàu Hải Quân Mỹ, nơi chuyển vận hàng tiếp liệu. Cách khoảng mấy trăm mét là cơ quan Phân Bộ Cố Vấn Quân Sự Mỹ, (MACV) do đại tá George O. Adkisson là cố vấn cao cấp của Sư Đoàn 1 BB/ VNCH chỉ huy. Khu MACV gồm vài tòa nhà, gồm cả một khách sạn (Khách sạn Thuận Hóa,- ngd) được sửa chữa lại, có tường bao chung quanh. Toán Cố Vấn Quân Sự số 3 sống thoải mái ở đây.
Về lịch sử, Huế chưa bao giờ là một trung tâm quân sự nhưng lại là một thành phố nổi tiếng. Đó là trung tâm văn hóa Việt Nam, một nơi để học, để hồi tưởng truyền thống và giá trị của thời quá khứ. Huế được người ta biết tới vì có thành cổ, hoàng thành và lâu đài cung điện, với những cái tên như là Đại Nội, Tử Cấm Thành, điện Thái Hòa. Huế nổi tiếng với những khu vườn sum suê hoa trái, các hào thành chung quanh, cung điện sơn son thếp vàng, những công trình bằng đá đẻo phức tạp, mỹ thuật. Ở bờ nam có viện Đại Học, tòa Hành Chánh xây theo kiểu Pháp, Câu Lạc Bộ Thể thao có nhiều bãi cỏ rộng chạy dài tới bờ sông, và hàng hiên xây theo kiểu 1930. Huế có những con đường hai bên là hai hàng cây xanh, có tiếng chuông chùa, những kiến trúc thanh nhã kiểu Pháp Việt, và các nữ sinh mặc áo dài trắng bay theo gió, có mái tóc đen như lụa. Theo huyền thoại Phật Giáo, Huế là đóa sen mọc trong bùn, Huế là thành phố đẹp, thanh bình trong một đất nước đang có chiến tranh.
&
Đại úy Coolican cao 6 fít rưởi, là một người to con, quê ở vùng than đá Carbondale, Pennsylvania và khi ở mặt trận, ông ta như cái tháp che khuất các người lính Việt Nam nhỏ con. Có một điều đáng để ý giữa họ với nhau là trong thời gian 9 tháng làm cố vấn cho Sư Đoàn 1 BB/ VNCH, ông ta trở thành người của họ. Ông ta nói tiếng Việt, mặc đồng phục của họ, ăn cơm Việt, và khi bệnh hay bị thương thì được y sĩ Việt Nam điều trị. Ông ta biết văn hóa của người Việt và nể tài chiến đấu của họ. Coolican yêu người miền Nam Việt Nam.
Ông ta buồn bã nhận ra rằng ông là người thiểu số trong đám chiến hữu quanh ông. Nhìn chung, quân nhân Mỹ thường có cái nhìn chiếu cố đến người Việt, đặc biệt ở trong Quân Đội VNCH. Về phần Coolican, như tất cả các người Mỹ khác, cố gắng nhận xét mọi việc, mọi người, theo quan điểm của người Mỹ, chẳng biết gì về lịch sử và truyền thống người Việt Nam cả. Chẳng hạn như một anh lính Mỹ trẻ thường thấy người Việt Nam đưa tay lên thì cho rằng anh ta đang chiến đấu cho một đất nước đồi trụy, anh ta đâu có biết rằng lối đưa tay như thế là tỏ dấu bắt tay với người Mỹ. Hoặc như một lần Coolican chứng kiến, một đoàn xe Mỹ chạy ngang qua một làng quê, và thấy Nghĩa Quân rỗi rãi ngồi quanh với nhau tán chuyện gẫu, có người chẳng có súng ống gì cả, thì kết luận rằng người lính Việt Nam vô tích sự – và chưa bao giờ thấy Quân Đội VNCH đang hành quân. Cách nhìn như vậy hạn chế vì chưa từng trải kinh nghiệm, làm phiền Coolican không ít. Ông ta thấy người lính miền Nam hết sức can đảm, chiến đấu khéo léo, và luôn luôn sẵn sàng chống địch.
Đầu tiên là một cú sốc văn hóa có tác động đến ông ta. Trong một trận đánh từ nửa đêm tới sáng xảy ra phía nam Quảng Trị, khi ông ta còn ở Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 3; ông tiểu đoàn trưởng là một người can đảm và nổi tiếng giỏi, bị tử trận. Tới sáng, Coolican cho xếp thi hài những người tử trận bên đường chờ trực thăng tới bốc đi, thì ông ta bị kích động vì thấy lính tráng ngồi bên cạnh các xác chết một cách tỉnh bơ, ăn cơm, uống trà và nói đùa với nhau. Ông ta nói với một trong các sĩ quan trong tiểu đoàn rằng ông ta lấy làm lạ chẳng ai lưu tâm tới cái chết của cấp chỉ huy họ cả. Một người trả lời ông ta: “Dễ hiểu thôi, tại sao chúng tôi lại phải buồn. Ông ta là một người tốt, một người can đảm. Ông ta sống một đời tốt đẹp, chết một cách anh dũng thì gia đình ông ta phải tự hào chớ. Chết là số phận, ông ta thấy hạnh phúc cho số phận mình. Vì vậy, thay vì than khóc cho ông thìchúng tôi hân hạnh vì ông ấy.” Coolican cũng biết thêm rằng người Việt thường làm đám ma lớn để vinh danh cho người chết. Khi đánh nhau, người ta thường chuyển người chết đi sau khi cho tải thương những người bị thương nặng. Hoa Kỳ thì khác, người chết được chuyển đi sau cùng. Phải nhiều tháng ông ta mới quen cảnh sống như người Việt Nam. Họ có thể làm những điều khác ông, Coolican nghĩ vậy, nhưng cuối cùng thì cũng giống nhau cả vậy thôi.
Bởi vì hiểu được văn hóa Việt nên ông ta biết những ngày nghỉ Tết quan trọng đối với binh lính của ông như thế nào. Coolican, một người ngoại quốc, cảm thấy phải tham gia cùng với lính khi ngày lễ tết bắt đầu. Thấy có vài sĩ quan tham mưu, cố vấn và người lính truyền tin của toán Cố Vấn số 3 đang làm việc tại cơ quan MACV của đại tá Adkisson nên Coolican dự định vui tết với lính. Ông ta chào từ biệt các người trong nhóm rồi lên xe Jeep tới bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1/ BB.
Ông ta tính lái xe vô Thành Nội, đèn xe cắt một vệt sáng qua bóng đêm đen. Và Coolican dừng lại trước khi cho xe vượt qua chiếc cầu bắc ngang sông Hương (Cầu Trường Tiền – ngd). Coolican xuống xe, đứng yên lặng và nhìn quanh. Đêm thật đẹp và êm đềm, (trăng cao và sáng) (3). Cây bên bờ sông hiện thành bóng đen dài. Tuồng như chẳng có ai chung quanh.
Bên dưới cầu nước đen và lóng lánh, dưới ánh vàng của bóng trăng, sóng vỗ vào mạn thuyền bập bềnh dưới chân cầu. (4)
&
Phía hạ lưu, cách phía tây nam thành phố khoảng 4 cây số, trung úy Tân, một cấp chỉ huy Đại Đội Thám Báo của Sư Đoàn 1 đang ngồi với cố vấn của anh ta, một người thuộc Quân Đội Úc, WO2 Terry Egan và 36 binh lính. Họ đang ở gần bờ sông và theo dõi tình hình. Họ núp trong bóng đêm, chờ đợi và quan sát một cách lặng lẽ. Bất thần lúc 10 giờ đêm, súng nổ ở phía đông. Một đơn vị quân Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) tấn công một đại đội địa phương quân. Họ nghe hai bên bắn qua lại rồi thấy bóng người di chuyển trong hàng cây. Trung úy Tân và Egan gọi điện báo cáo vị trí, quân số và trang bị của địch cho bộ tham mưu của tướng Trưởng. Họ ngồi trong bóng đêm im lặng quan sát địch quân thấm nhập qua phòng tuyến của họ. Ít ra có khoảng hai đại đội địch đang hướng về Huế.
Một giờ bốn mươi phút sau khi trung úy Tân báo cáo tin tức địch về bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, vào lúc 3giờ 40 sáng ngày thứ Tư 31 tháng Giêng/1968, quân CSBV và Việt Cộng tấn công thành phố Huế. Hỏa tiển và súng cối từ những ngọn đồi ở phía tây bắn xuống thành phố. Hỏa châu bừng sáng chiếu lên các mái nhà. Bộ binh CSBV tiến theo sau, vượt qua các cây cầu và tiến vào thành phố. Bên trong, một số Cộng quân thâm nhập vào trước bằng các phương tiện vận chuyển dân sự, nay thay quần áo binh lính, lấy súng cũng như tiếp liệu đạn dược, được bí mật chuyển vào thành phố từ trước.
Tại MACV ở bờ nam sông Hương, quân địch chỉ mới tấn công cửa chính. Một phi công vừa mới thực hiện chuyến bay quan sát về, đáp xuống phi trường trong Thành Nội (người Huế gọi là phi trường Tây Lộc hay phi trường Thành Nội – ngd) lái xe về tới cổng thì bị quân CSBV bắn. Khoảng một chục hỏa tiễn 122 ly từ trong bóng tối rít lên, bay vào, đào thành những cái hố sâu khoảng 8 bộ, một trái đạn phá một lỗ trên mái tòa nhà Trung Tâm Hành Quân (TOC), giết và làm bị thương mấy người bên trong, trong khi một trái khác thì phá hỏng một chiếc xe Jeep. Nhiều trái khác thì may mắn vì hỏa tiển bay quá hay không tới mục tiêu. Ngay những trái nổ đầu tiên, binh lính trong doanh trại đã ra ngay tuyến phòng thủ.
Hỏa tiễn ngưng rót vào. Vì một vài lý do nào đó, có một khoảng thời gian chừng 5 phút yên lặng trước khi quân CSBV tấn công. Năm phút nầy đủ cho binh sĩ chụp lấy súng đạn và chiếm vị trí của họ dọc theo bờ tường. Khoảng bốn chục lính CSBV từ những tòa nhà chung quanh MACV nổ súng dữ dội. Họ ôm theo chất nổ chạy tới các bức tường bao quanh MACV. Một anh binh nhì trẻ người Mỹ đứng trên tháp canh cao làm bằng gỗ nã súng máy vào chỗ các bức tường bị sập. Anh ta hạ khoảng năm sáu lính CSBV và làm cho cuộc tấn công chậm lại khoảng 5 phút. Rồi B-40 và lựu đạn bắn vào tháp canh. Bị thương nặng ở chân, anh ta la cầu cứu. Coolican bò tới chỗ tháp, dưới hỏa lực của địch, đem anh binh nhì xuống được.
Một trung đội CSBV tiếp tục tấn công, chiếm được cổng chính. Các TQLC (thuộc đơn vị an ninh ở Đà-Nẵng) tăng cường cho toán công sự giữ cổng chính, chận đứng được sức tấn công của địch mấy phút trước khi họ bị bắn bằng một quả B-40. Súng ở phía bờ tường bắn vào dữ dội. Coolican cùng binh lính núp sau chướng ngại bắn trả bằng cả súng M-79.
Việc anh binh nhì trên tháp canh và toán công sự phía cổng chính chặn được địch mấy phút đã giúp thiếu tá TQLC Frank Breth và người ở cùng phòng thuộc quân đội Úc lên được trên tầng lầu chót. Họ mang theo súng và lựu đạn. Breth bị thương – trái hỏa tiển bắn trúng xe Jeep, làm sập mái nhà, rơi trúng đầu ông ta khi đang ngủ, thủng một chỗ trên trán, nhưng ông ta kịp thời băng bó và bây giờ đã sẵn sàng đánh trả. Phía dưới đường, cách khoảng 40 bộ, ông ta thấy mấy lính CSBV còn sống – Họ có khoảng 16 người – cố gắng vượt qua cổng chính. Bọn họ mang chất nổ. Breth đảm trách chức vụ sĩ quan liên lạc tại MACV giữa Sư Đoàn TQLC Mỹ và Sư Đoàn 1 BB/VNCH, nhưng trước đó, ông ta phục vụ tại Cồn Tiên và bị thương khi làm đại đội trưởng nên có nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Trong ánh sáng mờ mờ ông ta dùng M-16 quét sạch người lính CSBV nào vượt qua khỏi cổng chính, trong khi đồng đội của ông thì quăng hết trái lựu đạn nầy đến trái lựu đạn khác. Bên dưới xác địch trải dài ra từ cổng chính vào tới bên trong.
Địch chấm dứt cuộc tấn công bộ.
Quân CSBV chiếm các ngôi nhà chung quanh MACV, đặt súng máy tại các cửa sổ, bắn vào dữ dội. Hỏa tiển B-40 và súng cối cũng được xử dụng mạnh mẽ.
MACV không phải là một doanh trại, không trang bị vũ khí. Bên cạnh người Mỹ có một nhóm sĩ quan Úc chiến đấu giỏi. Họ có trữ vũ khí và đạn dược cho các cuộc hành quân dã ngoại. Nhờ vậy, mọi người được trang bị đầy đủ và sẵn sàng. Họ nghe súng nổ mọi phía nhưng quân CSBV không mở cuộc tấn công trực tiếp vào MACV nữa. Đại úy Coolican chẳng có cách nào trở về ngay tức khắc bên bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 BB/ VNCH ở trong Thành Nội. Ông ta chứng tỏ là một người chủ biết tổ chức an ninh cho doanh trại. Ông ta thu gom binh lính rải rác lại, và với sự trợ giúp của trung úy Steve Lampo, TQLC/ Hoa Kỳ, và trung úy Fred Drew, quân đội Mỹ, họ chia ra canh gác, tuần phòng và chuyển thương binh vào trạm xá.
Đại úy bác sĩ Stephen Bernie đóng ngay trong MACV, đang làm việc hết sức căng thẳng. Cần phải chuyển những người bị thương nặng tới một nơi có trang bị đầy đủ dụng cụ y khoa hơn. Có một trung tâm truyền tin dưới đường phố, cách MACV một lô nhà, không hiểu sao địch không chiếm nơi nầy. Do đó, việc liên lạc với bên ngoài vẫn còn tiếp tục. Yêu cầu cho trực thăng di tản thương binh được gởi ngay cho Bộ Chỉ Huy Cố Vấn Quân Đoàn 1 ở Đà-Nẵng, qua lực lượng đổ bộ TQLC III và Sư Đoàn 1 TQLC. Kết quả lời yêu cầu phải gởi quanh co như thế là: Chẳng có kết quả nào. Binh lính trong MACV cũng yêu cầu tiếp viện ngay tức khắc. Họ đang bị cô lập và khả năng liên lạc với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 BB/ VNCH cũng bị cắt nên họ không rõ những gì đang xảy ra trong Thành Nội. Kết quả lời yêu cầu của họ là chỉ có một ít tin tức tình báo. Họ không biết địch tấn công toàn quốc vào dịp Tết, ngay họ cũng không biết toàn bộ thành phố Huế bị địch chiếm hoặc họ biết cuộc tấn công nầy dữ dội nhưng hạn chế. Họ không biết như thế thật, nhưng hầu hết mọi nơi trong thành phố, quân CSBV và Việt Cọng muốn đi đâu thì đi, vượt qua các xác chết của binh lính VNCH, và bắt đầu đào hầm hố, thiết trí súng máy và súng cối trong nhà dân. Tất cả mọi người dân Huế đều ở trong nhà, đóng kín cửa, bối rối và lo lắng. Trên bức trường thành trong Đại Nội, bên bờ sông Hương, một lá cờ xanh đỏ vàng của Việt Cọng treo trên cột cờ Ngọ Môn.
Chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, địch chiếm được thành phố.
&
Hạ sĩ Carter đang ở trong hố cá nhân thì bị đánh thức dậy. Một người nói: “Tụi mình có lệnh báo động trăm phần trăm.” Carter ngồi dậy, cằn nhằn: “Mày chẳng nể gì tao. Tao mới ngủ một chút.”
Người tiểu đội trưởng cho biết bọn “Cùi” tấn công mọi chỗ. Có tin đồn Huế đã mất. Từ vị trí đại đội trên đỉnh đồi, Carter nhìn chăm chăm xuống thung lũng. Anh ta thấy nhiều vệt xanh đỏ nổ lốp bốp tới lui nơi đơn vị hỗn hợp Việt Mỹ đang trấn giữ một ngôi làng. Xa hơn nữa, anh ta có thấy các đốm lửa lòe sáng lên: Căn Cứ Phú Bài đang bị pháo kích bằng hỏa tiển.
Anh ta nghĩ: Ngày Tết thiêng liêng cái xái bò gì.
&
Bộ Chỉ Huy chính ở căn cứ Phú Bài là Lực Lượng Đặc Nhiệm (LLĐN) X-Ray, được gọi một cách chính thức hơn là Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Sư Đoàn 1/ TQLC. Bộ Chỉ huy nầy được thành lập hôm 13 tháng Giêng vì trách nhiệm khu chiến thuật của Sư Đoàn được mở rộng, từ nam Đà-Nẵng tới gần bắc Huế. X-Ray chịu trách nhiệm khu vực từ đèo Hải Vân tới biên giới phía bắc của TAOR (Tactical Area Of Responsibility), có nhiệm vụ bảo vệ căn cứ Phú Bài, kiểm soát khu phía tây Huế và bảo vệ Quốc Lộ 1 từ đèo Hải Vân cho tới Huế. Đơn vị của các sư đoàn đã di chuyển vào khu vực, giải nhiệm cho các đơn vị của Sư Đoàn 3/ TQLC để các đơn vị nầy chuyển ra khu chiến thuật nằm phía nam Khu Phi Quân sự. Trên thực tế, Bộ Chỉ Huy Lực Lượng Đặc nhiệm X-Ray đảm nhiệm khoảng trống do Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3/ TQLC di chuyển để lại.
Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm là tướng Foster C. LaHue, phụ tá Tư lệnh Sư đoàn 1/ TQLC. Ông ta là một cựu chiến binh Thế Chiến Thứ Hai được thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Bạc và Chiến Thương Bội Tinh. Tại Phú Bài, ông ta là cấp chỉ huy của hai trung đoàn 1 và 5/ TQLC, bốn tiểu đoàn bộ binh, toàn bộ các đơn vị yểm trợ gồm thiết giáp, pháo binh, quân vận, công binh và quân y. Tướng LaHue được đặt dưới quyền chỉ huy của Sư Đoàn (tướng Donn J. Robertson), Lực Lượng Đổ Bộ TQLC III (tướng Robert E. Cushman), toàn bộ khu vực hành quân, Quân đoàn I, dưới quyền kiểm soát của Nam Việt Nam đặt ở Đà-Nẵng: Trung tướng Hoàng Xuân Lãm. Tại Phú Bài, sáng ngày 31 tháng Giêng, tin điện báo cáo được tới tấp đưa vào trình ở Bộ Chỉ Huy của tướng LaHue. Hoạt động của địch được Khu Chiến Thuật báo cáo: Các làng mạc đều bị tấn công, địch đánh phá các cầu trên Quốc Lộ 1, các vị trí của TQLC bị pháo bằng súng cối, các đơn vị hỗn hợp Việt-Mỹ bị địch quấy rối, tin tình báo cho biết địch sẽ tấn công thêm vài nơi và các đơn vị TQLC dưới quyền chỉ huy của tướng LaHue đang gặp đe dọa, nhưng không ai nắm chắc mục tiêu và cường độ tấn công của Cộng Sản. Chỉ là mới bắt đầu cuộc tấn công toàn diện vào dịp Tết, cùng một lúc, địch xuất hiện khắp nơi. Và người ta cũng đồn thành phố Huế bị bỏ ngõ. Lời kêu cứu xin tiếp viện của MACV đi lòng vòng tới Quân đoàn I, sau khi qua các đơn vị hữu trách, cuối cùng tới X-Ray. Khi bức điện kêu cứu đó tới tay tướng LaHue thì hình hình đã khác đi nhiều và cũng không biết chắc tình hình ở Huế lúc đó như thế nào nữa.
Lệnh từ Lực Lượng Đổ Bộ III yêu cầu gởi binh sĩ tăng cường Huế, nhưng tướng LaHue chỉ gởi một đại đội có thể sẵn sàng tiếp viện cho Huế mà thôi.
Chẳng ai biết hành động bằng cách nào. Nhưng phía địch ở Huế thì đã tập trung các tiểu đoàn 804, K4B, và K4C của trung đoàn 4 CSBV, các Tiểu đoàn 800 và 802, 806 của Trung Đoàn 6/ CSBV, Tiểu đoàn 810 độc lập của CSBV, Tiểu đoàn 12 và Tiểu đoàn đặc công Cổ-Bi. Đó là một lực lượng cở sư đoàn, kiểm soát mọi nơi trong thành phố, ngoại trừ MACV và Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1/ BB.
Lực lượng chống Cộng Sản gồm có Đại Đội A của Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 1, Sư Đoàn 1/ TQLC. Họ tiến thẳng trên Quốc Lộ 1, con đường được đặt tên là “dãy phố buồn thiu” (5) vì nhiều người Pháp đã bỏ mình ở đây trong nhiều năm trước.
Alpha 1/ 1 là đơn vị được trang bị đầy đủ mà phần lớn là nhờ ông đại đội trưởng, đại úy Gordon D. Batcheller, một người to cao, khiêm tốn, thông minh và nghiêm nghị, mà vì khí hậu Việt Nam khó chịu vì ẩm ướt, nên ông ta cạo đầu trọc lóc.
Hai mươi tám tuổi, đại úy Batcheller sinh ở Boston, con thứ hai trong một gia đình có ba người con trai của một đô đốc hải quân. Khi còn trẻ, anh ta chẳng ưa đời lính vì hay di chuyển, phân ly, chẳng bao giờ quan tâm một cách nghiêm trang về việc thi hành quân dịch. Nhưng khi học tại trường đại học Princeton, anh ta được tiếng là người chơi banh bầu dục giỏi, và người ta bảo anh ta phải làm gì cho quê hương. Do đó, anh theo học trường đào tạo sĩ quan TQLC. Anh ta chỉ muốn phục vụ trong binh chủng nầy mà thôi, nhưng vì bị thương ở đầu gối nên không được nhận. Anh ta vội vàng bỏ ý định đăng lính. Nhưng khi học năm thứ nhất ở đại học, lương tâm anh ta lại thúc hối. Năm 1960, anh qua được việc khám sức khỏe, rồi tốt nghiệp sĩ quan. Sau hai năm mang lon trung úy, anh ta muốn mở rộng binh nghiệp.
Lần đầu tiên khi TQLC đổ bộ ở Đà Nẵng, Batcheller muốn trao nhiệm vụ ngay. Phải chờ hai năm, tới tháng Tám/ 1967, anh ta nhận lệnh lên đường đi Việt Nam, chào giã từ vợ con ra chiến trường. Anh ta rời nhiệm vụ tham mưu, sĩ quan tình báo đơn vị 1/ 1, một công việc bực bội, tìm chức vụ đại đội trưởng đại đội vũ khí nhẹ. Cuối cùng, vào dịp lễ Giáng sinh/ 1967, anh ta làm đại đội trưởng Đại Đội Alpha. Anh ta gọi đùa đó là món quà lớn lễ Giáng sinh.
Batcheller đang ngủ trong cái bạt vải tại căn cứ Phú Bài thì bị đánh thức dậy, có lệnh tập trung đại đội. Anh ta chẳng nhận được tin tức gì rõ ràng, chỉ bị đánh thức dậy mà thôi và nhiệm vụ là phối hợp với một đơn vị Quân Đội/ VNCH đóng ở bên ngoài căn cứ.
Anh ta gặp trở ngại là thiếu tin tình báo, đại đội thiếu quân số trầm trọng. Sĩ quan thì được luân phiên nghỉ ba ngày, trung đội trưởng trung đội 3 thì đang thụ huấn ở Đà-Nẵng. Trước đó mấy giờ, đại đội được trực thăng bốc từ Quảng Trị về (Một phần tiểu đoàn đặt dưới quyền kiểm soát của X-Ray), một chiếc trực thăng bốc lộn phần còn lại của trung đội 1 và hai ông thiếu úy và trung úy trung đội bị kẹt lại Quảng-Trị. Sáng hôm 31 tháng Giêng đó, Batcheller chỉ còn lại có trung sĩ J.L. Canley, pháo thủ đại đội, giọng nói rề rề, da đen, to con và nổi tiếng gan cùng mình; hiệu thính viên, hạ sĩ Larry Williams, trẻ, tóc vàng trông như thằng bé con, gốc California; còn lại đây nữa là trung đội 1 do trung sĩ C.D. Godfrey chỉ huy; trung đội 2 do hạ sĩ Bill Jackson quyền chỉ huy, anh nầy quê ở thành phố Nữu Ước, gan lì, 19 tuổi, phục vụ ở trung đội 6 tháng, có Chiến Thương Bội Tinh trong trận Cồn Tiên. Chỉ huy trung đội 3 là là trung sĩ Alfredo Gonzalez vì sĩ quan vắng mặt. Anh nầy ít nói, 21 tuổi, gốc Mexicô, quê ở thành phố biên giới Edinburg, tiểu bang Texas.
Batcheller tin tưởng những người nầy, họ là những TQLC đánh giặc giỏi.
Batcheller và các trung đội thiếu quân số nói trên lên mấy chiếc xe GMC ở Đại Đội C, Tiểu Đoàn Quân Vận 1 do trung úy Jerome Nadolski chỉ huy. Một xe GMC trí súng đại liên 50 đi đầu, một chiếc khác đi sau, giữ an ninh mặt hậu. Sau khi có hiệu lệnh, đoàn xe hướng về phía nam, bên ngoài thành phố Huế, tới điểm hẹn với đơn vị Quân đội VNCH. Trời sáng sớm, xám xịt và lạnh. Ai cũng khó chịu vì không biết điều gì sẽ xảy ra. Sau gần hai giờ đồng hồ, họ tới điểm hẹn. Đoàn xe dừng lại, chờ đơn vị Quân đội VNCH tới tăng cường, nhưng toán quân nầy chẳng bao giờ xuất hiện.
Đại úy Batcheller báo cáo về Phú Bài. Lệnh được thay đổi. Cho đoàn xe chạy vòng quanh, theo Quốc Lộ 1, gặp một đơn vị VNCH khác ở phía bắc Huế. Batcheller xem lại bản đồ. Đơn vị anh ta đã đi được một nửa đường. Đồng thời, khi họ đang di chuyển sát phía nam thành phố thì gặp một toán khác đang trên đường đi: 4 Chiến xa M-48 của Chi Đoàn 3 Chiến Xa, thuộc Sư Đoàn 3/ TQLC, một xe Jeep, và một xe cần trục do trung tá Edward J. LaMontagne, sĩ quan Sư Đoàn 3/ TQLC chỉ huy. Ông nầy đang thực hiện chuyến đi thường lệ trên Quốc Lộ 1, hộ tống cho đơn vị Hải Quân ở mặt Nam đặc trách vận chuyển tiếp liệu cho sư đoàn của ông ta ở Khu Phi Quân Sự. Tuy nhiên, tới gần sông đào Phú Cam (sông An Cựu), họ thấy một khung cảnh ngạc nhiên. Vài chiến xa của QĐ/ VNCH bị cháy, xác binh lính nằm bên cạnh. LaMontagne là một người thô kệch, có 3 năm kinh nghiệm đảm trách nhiệm vụ quân y cho Hải Quân và cố vấn cho TQLC/ VNCH. Ông ta vội tổ chức lại lực lượng để ứng phó với tình hình. Gặp Đại Đội Alpha là một ngẫu nhiên, cả hai kết hợp với nhau và tiếp tục lộ trình.
Batcheller lại nhận được lệnh mới: Tới giải cứu cho MACV đóng ở trong thành phố Huế. LaMontagne ra lệnh cho đoàn xe tiến nhanh hơn. Đoàn xe chạy bọc theo một làng ở phía nam, bất thần bị bắn sẻ. Ngay lần chạm súng đầu tiên nầy, vài TQLC Mỹ bị thương. Quân Mỹ bắn trả dữ dội vào các ngôi nhà và bụi cây hai bên đường trong khi chiến xa và xe GMC tiếp tục di chuyển. Một lúc sau đoàn xe vượt qua cầu An Cựu trên sông đào Phú Cam (sông An Cựu). Mặt cầu bị mấy lỗ hủng lớn do địch cố phá sập cầu nhưng không thành công. Nếu cầu sập, Cọng Sản sẽ cầm chân được lực lượng Mỹ ở Phú Cam vì phải chờ mới qua sông được thì MACV có thể bị đánh chiếm. Quân CSBV đã thất bại. TQLC Mỹ vượt sông An Cựu không có gì khó khăn. Batcheller ra lệnh dừng quân bên bờ sông. Trước mặt là con đường chạy giữa hai dãy phố (An Cựu), làm cho Batcheller nhớ tới một thành phố kiểu Châu Âu cổ: Những căn nhà gỗ hai tầng, nhà sát cạnh nhau, thiếu cả hè phố.
Đường sá lặng im.
Batcheller ra lệnh cho binh lính rời xe GMC leo lên xe tăng. Còn anh ta và hiệu thính viên, hạ sĩ Williams thì rời xe jeep leo lên pháo tháp chiếc chiến xa đi đầu. Anh ta ra lệnh: Đi. Chiếc xe tăng cuốn bụi lên mù mịt, tiếng máy xe gầm rú dữ dội. Để đề phòng, mọi người nã đạn vào các ngôi nhà hai bên đường.
Bất thần họ bị bắn trả.
Không biết hỏa tiển B-40 từ đâu bắn ra. Chiếc xe tăng của Batcheller bị giật mấy lần. Có tiếng nổ khác và súng AK-47 từ trong các ngôi nhà hai bên đường bắn ra. Tài xế xe tăng cố cho xe vượt nhanh tối đa. Cuối cùng chiếc xe thoát ra khỏi hai dãy nhà cay nghiệt và dừng lại tại bùng binh ở ngã tư đường, bên trái là cây xăng. TQLC đưa mấy người bị thương xuống núp dưới đường mương bên cạnh. Batcheller sợ anh ta bị thủng màng nhĩ vì tiếng nổ B-40 và bị mấy mảnh đạn nhỏ. Bấy giờ, anh ta bất thần nhận ra hạ sĩ Williams đâu mất tiêu. Có lẽ trái hỏa tiễn đẩy anh ta văng khỏi chiếc xe tăng. Anh ta thấy y tá, một người quê ở New-York, có biệt danh là Bác sĩ Brooklyn nằm bất động bên pháo tháp. Chân anh ta từ đầu gối trở xuống bay mất. Chỉ có một chút máu, Batcheller nhìn chằm chằm hai chân anh ta, bị cắt gọn như một miếng dồi. Brooklyn đã chết.
Sau lưng anh ta, trên đường phố súng vẫn nổ dữ dội. Mấy chiếc xe tăng vừa cố bắn trả vừa cố vượt qua hai dãy phố, tiếp tục bảo vệ thương binh.
Hạ sĩ Jackson nhảy xuống đường, gục đầu xuống đường mương. Chúa ơi! Chúa ơi! Thiệt là tệ. Anh ta thấy lính CSBV núp trên mái nhà, trong các cửa sổ, phóng như tên bắn trong các đường hẽm, nổ súng lia lịa. Các TQLC cũng bắn lại một cách điên cuồng. Người dân kẹt giữa hai lằn đạn.
Bất thần, Jackson thấy trung sĩ Gonzalez xông tới phía anh ta, máu chảy vì bị thương nhưng vẫn còn kéo theo che cho một TQLC khác. Jackson nhìn người lính đó. Té ra Williams, hiệu thính viên. Hai chân anh ta đầy máu. Y tá vội băng cho anh ta. Súng vẫn nổ, cỡ vài phút. Rồi xe tăng lại di chuyển về phía trước, lính núp phía sau xe, vừa đi vừa bắn, kéo các thương binh theo. Quân Bắc Việt bắn lộp độp chung quanh.
Cuối cùng họ tới được chỗ bùng binh An Cựu, có Batcheller ở đó.
Trước mặt họ là các đám ruộng lúa kéo dài ra, tới chỗ có hàng cây và mấy ngôi nhà. Con đường trước mặt cao hơn và cắt ngang đám ruộng. Có hai căn nhà lớn ở hai bên đường. Từ hai căn nhà nầy, súng máy bắn ra tạch tạch. Vài trái súng cối nổ quanh đám TQLC. Đại úy Batcheller và trung tá LaMontagne ra lệnh bắn trả. Đại bác 90 ly trên xe tăng và đại liên 50 bắn xối xả, vỏ đạn rơi leng keng xuống mặt đường. Súng của quân CSBV cứ tiếp tục nổ. TQLC tiếp tục bắn M-16 vào vị trí địch.
Con đường đi tới MACV còn xa, xe tăng tiếp tục tiến tới, bộ binh theo sau. Cây cối và cột điện thoại đổ ngang xuống đường, bị lá cây che khuất. Batcheller lom khom chạy theo sau chiếc xe tăng dẫn đầu. Anh ta chẳng liên lạc được với ai cả. Máy truyền tin bị nhiễu vì nhiều tiếng nói Việt Nam. Anh ta cũng chẳng biết đó là tiếng của quân Bắc hay Nam VN hoặc cả hai. Chung quanh anh ta, TQLC đang nã đạn vào các tòa nhà hai bên đường, vữa và bụi tung lên.
Họ giết hết mấy người lính CSBV trong hai tòa nhà, nhưng khi họ vượt qua hai ngôi nhà nầy thì súng máy lại nổ. Một lính Hải Quân và mấy người lính bị thương nằm dài trên đường. Batcheller trụ lại đằng sau xe tăng và cố kéo họ lui. Súng máy lại nổ. Người lính bị thương vuột khỏi tay Batcheller, chết vì một tiếng nổ. Bỗng Batcheller vướng cái ấm nấu nước, té mạnh xuống phía trái, vướng vào cuộn kẽm gai concertina.
Anh ta nhìn quanh, có mấy cái lỗ ở cánh tay phải trước, đùi phải và đầu gối trái. Máu thấm qua chiếc áo giáp. Anh ta nghĩ chắc là xuất huyết cho tới chết. Anh ta nghe tiếng súng nổ mau, tiếng la to gọi TQLC trở lui. Anh ta nằm đó, kẹt trong đám kẽm gai, nhìn qua các cành cây trên đầu. Anh ta thấy buổi sáng sớm trở nên u ám và mây che mất bầu trời xanh trong.
Batcheller bắt đầu cầu nguyện.
Khoảng trưa hôm đó, tin Đại Đội Alpha bị tấn công thiệt hại nặng về tới Phú Bài. Trung tá Marcus J. Gravel, tiểu đoàn trưởng 1/1 vội vàng tổ chức lực lượng phản công gồm có: Ông ta, thiếu tá Walter M. Murphy, sĩ quan hành quân, một vài người khác thuộc Đại Đội Chỉ Huy và Đại Đội 2/ 5.
Trung úy Richard Lyons, thuộc Hải Quân, sĩ quan tuyên úy 1/ 1 mới đi thăm thương binh của đại đội hiện điều trị tại Đà-Nẵng về, vừa bước ra khỏi sân bay trực thăng thì chiếc xe Jeep trờ tới. Ngồi trên xe là mấy TQLC, gồm cả Gravel và Murphy. Trung tá Gravel gọi anh ông ta: “Có muốn đi Huế đánh nhau trên đường phố không?” Lyons, ở Việt Nam đã gần một năm nay, nổi tiếng là một sĩ quan tuyên úy dã chiến tốt bụng, – Ngay cả khi ông ta cầm súng bắn che để di tản thương binh – leo lên xe Jeep. Xe lái tới khu Đại Đội 2/ 5 đang được lệnh tập trung. Gravel thiếu cả thì giờ để lập kế hoạch cho lực lượng phản công của ông. Chỉ vừa la to: “Lên xe”. Xong, đoàn xe hướng ra Quốc Lộ 1.
Qua cầu An-Cựu đã bị hỏng, họ chạy vào chỗ các chiến xa, xe GMC đang dồn lại và Đại Đội Alpha đang bị cầm chân. Do lệnh của Gravel, binh lính nhảy xuống xe và tiến tới. Lyons nhìn qua bên phải thấy xác mấy người dân thường nằm bên đường. Trong số có xác một người đàn bà chết đã cứng, hai tay đưa lên trời. Lyons nghĩ: Thật kinh hoàng. Rồi ông ta quên hết cả nóng và khát nước.
Xa hơn một chút, ở phía trước, mấy TQLC đang phòng thủ trên đường phố. Tuyên úy Lyons tiếp tục bò tới phía trước cùng mấy TQLC, tụm với nhau, nằm sát lề đường. Phía bên trái, ông ta thấy bóng một người bạn đang nằm cứng đơ: đại úy Batcheller. Giữa Batcheller và Lyons là 2 xác chết. Ông ta bò sát mặt đường đầy bụi và lá khô, làm dấu thánh giá lần chót cho hai người chết nầy. Bò tới gần hơn chút nữa, ông ta thấy Batcheller rõ hơn: bị thương nặng, trông gần chết. Điên tiết lên, Lyons cầm cây M-16 ria một tràng vào hàng cây bên phía ruộng lúa.
Lyons nghe Batcheller bảo ngưng bắn, làm thế chỉ tổ cho địch bắn lại như mưa mà thôi. Batcheller la to bảo Lyons bò lui.
Phía sau họ, chiếc xe Jeep của đại đội đang chồm lên. Người lái xe là đại úy Don Schultz, cho xe dừng lại để chuyển người bị thương đi. – Chiếc xe trở thành một mục tiêu ngon lành cho địch. Trung tá Gravel cố giải quyết tình hình thật nhanh: Trung sĩ của Trung Đội 1 bị thương ở chân. Gunny Canley trong ban chỉ huy đại đội, anh nầy vẫn còn tự đi được. Phía trước địch còn bắn liên tục. Điều nầy cũng không lạ. Canley là một trung sĩ nổi tiếng trong đại đội. Các TQLC cố kéo người bị thương về phía lực lượng cứu viện. Batcheller được mang tới bên kia đường, sau chiếc xe jeep. Hạ sĩ Jackson và mấy người khác cố bó cái chân gãy của cấp chỉ huy họ bằng cái cán xuổng và băng.
Đại úy Batcheller, trung sĩ Godfrey, hạ sĩ Williams và một số người khác cần di tản gấp. Gravel cúi xuống xem những người bị thương và quyết định chuyển họ lên xe GMC nhưng không cho ai hộ tống. Điều đó hết sức nguy hiểm nhưng chẳng còn cách nào khác. Ông ta không thể chia người để lo công việc nầy. TQLC vội chuyển người bị thương lên xe. Một anh lính nhảy lên ca-bin để lái nhưng bị bắn té xuống, bị thương ở mắt cá. Anh ta được chăm sóc qua loa rồi đưa vào nằm chung với mấy người bị thương trong thùng xe. Có người hỏi to: “Có ai lái xe không?” Một TQLC nhảy lên cầm tay lái. Trong cảnh đạn bay vèo vèo, chiếc xe dọt đi. Gravel, Jakson và những người còn lại chăm chú nhìn theo chiếc xe. Chẳng mấy chốc chiếc xe biến mất.
Khoảng gần tối thì chiếc xe chở đầy thương binh về tới Tiểu Đoàn Quân Y ở Phú Bài. Sau khi giải phẩu, đại úy Batcheller được chuyển vào phòng dưỡng bệnh, hạ sĩ hiệu thính viên nằm giường kế, mê man. Dưới tấm ra, chỗ cái chân hỏm sâu một khoảng. Batcheller khâm phục anh chàng trẻ nầy, anh ta cao to, đẹp trai và chơi thể thao giỏi. Hơn thế nữa, anh ta là một người trẻ, vào quân đội không phải vì bị động viên, hay muốn làm người hùng. Chẳng qua anh ta thấy mình có trách nhiệm với đất nước, không thể sống an nhàn nơi quê nhà trong khi bao nhiêu người trẻ khác đang chiến đấu và hy sinh bên kia nửa vòng địa cầu. Batcheller nghĩ: Larry đúng là một thanh niên hoàn hảo.
Ngay tối hôm đó, hạ sĩ Larry Williams qua đời ngay trên cái giường ấy trong bệnh viện dã chiến. Batcheller nhìn người ta kéo tấm ra lên phủ mặt Larry.
&
Từ phía hai bên hông, quân CSBC bắn như mưa. Hạ sĩ Jackson và hai TQLC khác đứng dậy chạy ra khỏi con đường lộ. Họ chạy lom khom dọc theo các bụi cây và xóm nhà lá rồi ẩn núp. Từ một căn nhà đúc, một tràng AK-47 bắn ra. Ba người lính TQLC bắn trả bằng M-16 rồi xông về hướng địch. Họ vụt lựu đạn, cánh của lớn bung ra. Họ phóng qua cửa trước khi địch chưa có phản ứng kịp thời. Hai lính CSBC đang núp bên trong chưa kịp kinh hoàng vì tiếng nổ thì chết ngay tức khắc.
Trước toán lính TQLC, trung tá LaMontagne nhận lãnh nhiệm vụ. Ông ta mới vượt qua một chiếc xe tăng của quân đội VNCH, họ thấy những người lính sống sót của đơn vị mới bị đánh tan nầy ở Phú Cam và bây giờ sát nhập với toán TQLC. Súng vẫn tiếp tục nổ, cày nát khu vực đang chiến đấu. TQLC núp sát vào lề đường. LaMontagne kéo theo mấy TQLC và hai chiếc xe tăng chạy băng qua cánh đồng về hướng MACV.
Bên trong MACV, người ta nghe súng nổ dữ dội phía còn đang đánh nhau. Rồi có tiếng xe tăng. Mấy người lính la lên mừng rỡ: Tuyệt diệu! Quân cứu viện tới.
Thiếu tá Breth thấy bóng người đi vào cổng chính và nhận ra đó là LaMontagne: thấp, lùn, và chưa bao giờ trông có vẽ xấu xí như vậy, miệng ngậm điếu xì-gà bự, hai chiếc xe tăng hai bên. Breth la to trong khi binh lính hoan hô: “Nhìn kìa. TQLC”.
LaMontagne vào cổng chính và cho biết ông ta cần giúp đỡ. Trước hết, Breth chỉ vào vị trí quân CSBV, ngay bên kia đường. Xe tăng nã đạn vào đó. Xong, họ tổ chức lại binh lính để giải cứu đơn vị 1/ 1 đang kẹt trên đường. Thiếu tá Breth và thiếu tá Wayne R. Swenson, sĩ quan liên lạc Lực Lượng Đặc Nhiệm (LLDN) X-Ray với Sư Đoàn 1BB/ VNCH tổ chức một nhóm gồm các binh sĩ tình nguyện, leo lên một chiếc xe tải dân sự. Đại úy Coolican và trung úy Lampo gom một toán khác leo lên đầy một chiếc GMC chuẩn bị tiến ra. Đại tá Adkisson yêu cầu họ ở lại doanh trại nhưng họ không nghe và hai chiếc xe tải dọt ra đường. Một chiến xa theo sau. Nhưng họ lại phải ngừng vì xe không vượt qua đám ruộng được nên phải nổ súng bắn chặn để phòng thủ.
Họ tiếp xúc với binh sĩ Đại Đội Alpha. LaMontagne ra lệnh di tản thương binh. Ông ta cùng Breth và Sewnson đang chỉ chỏ ra lệnh thì bất thần một loạt đạn bay tới làm ông ta hạ tay xuống tức khắc.
Cuối cùng những người bị thương được đưa lên xe tải, xe chạy về hướng MACV.
Trên đường, ở phía cuối toán lính 1/ 1, trung tá Gravel và thiếu tá Murphy đang tìm cách tiến tới. Gravel bỏ lại xe Jeep trên đường và ra lệnh cho Lyons ở lại với Ban Chỉ huy. Viên sĩ quan tuyên úy miễn cưỡng ở lại với họ. Lyons cho rằng Gravel là một cấp chỉ huy giỏi, đang gặp tình trạng hết sức nguy hiểm. Ông ta không ích kỷ, hoàn toàn quan tâm tới binh sĩ của mình. Ông ta đang ở với mấy người lính TQLC, hiệu thính viên bên cạnh, cần ăng-ten lắc lư phía trên; cảnh ấy không khác chi phất ngọn cờ đỏ trước con bò mộng. Lyons cố bò xa ra.
Đại đội Golf do đại úy Charle Meadows chỉ huy tiến lên trước, Đại Đội Alpha bị tổn thất nặng tiến theo sau. Họ dàn ra hai bên đường, cố nhìn cho rõ, canh chừng địch, thỉnh thoảng nổ súng đề phòng. Bất thần, một toán lính CSBV nổ súng từ phía trước, bên trái, rồi chúng bắt đầu chạy lui, từ nhà nầy qua nhà khác mà có lẽ chỗ đó là một ngôi trường.
Gravel lấy làm lạ. Sáu tháng ở Việt Nam và đây là lần đầu tiên ông ta thấy địch đang hoạt động.
Bồn chồn muốn tới MACV và không biết có gì trong những căn nhà ấy, ông ta ra lệnh cho binh sĩ tiếp tục đi mà không cần tấn công quân CSBV quanh ngôi trường. Khoảng vài trăm mét phía trước là một ngã tư. Quân CSBV đang trí một cây súng máy ở bên mặt và đang bắn vào TQLC đang núp sau xe tăng. Gravel thấy trung sĩ Gonzalez, trung đội trưởng Trung đội 1, đang bị thương, từ phía sau xe tăng phóng ra lề đường, bò dọc theo đường mương lên phía trước, vụt mấy trái lựu đạn, nổ ngay trên đầu ổ súng máy.
Khẩu súng máy im tiếng. Binh lính tiếp tục tiến tới.
Gravel nhìn lui con đường mới đi qua, thấy chiếc xe Jeep vẫn còn đó và sực nhớ ra rằng quân CSBV có thể lấy máy truyền tin trên xe. Ông ra lệnh cho một trong những người chỉ huy xe tăng nã vào chiếc xe Jeep một phát đạn. Chiếc xe Jeep bật tung lên. TQLC tiếp tục đi chuyển, tiếp xúc với binh lính của LaMontagne đang ở gần khu MACV. Lúc đó khoảng 3 giờ chiều. Họ lên tinh thần, có thêm chỗ dựa, bây giờ lại có cả chiến xa. Hay nhứt lại là có thêm hai đại đội TQLC. Thiếu tá Swenson sau nầy kể lại: “Tôi hơi ngại. Tất cả chúng tôi chẳng ai sống sót nếu mấy người lính TQLC nầy không đến kịp lúc”.
Chung quanh MACV, địch vẫn còn nổ súng lác đác. Xe tăng bắn trả. TQLC của hai Đại Đội Alpha và Golf bố trí quanh khu MACV và con đường dẫn xuống bến tàu. Họ cũng giữ an ninh cầu Nguyễn Hoàng (Cầu Trường Tiền – ngd), trên Quốc Lộ 1, bắc ngang sông Hương và dẫn vào Thành Nội, bên phía đó có một bến tàu phụ thuận tiện cho Hải Quân.
Trong MAC.V, Breth giới thiệu Gravel với Adkisson. Breth ngạc nhiên khi Adkisson trả lời cộc lốc với Gravel là ông ta không cần lưu tâm lệnh lạc như thế nào cả. Binh sĩ ông ta ở lại đây và bảo vệ MAC.V. Adkisson là một người to cao, đẹp trai, mới nhận nhiệm vụ chỉ khoảng một tuần trước. Breth cho rằng ông ta phản ứng theo cách một sĩ quan tham mưu không tác chiến. Tuồng như ông ta không phải là người biết điều, hay lo lắng những điều nhỏ nhặt và chậm phản ứng vì chẳng biết việc gì đang xảy ra cả. Việc giới thiệu đẩy Gravel vào vị thế đối đầu với một người mà ông ta mới giải cứu xong.
Có khoảng vài chục người bị thương được gom lại trong MAC.V, đại úy Bernie, y sĩ, cố gắng chăm sóc thương binh hết mình trong khi ông đòi tản thương. Lời yêu cầu được điện đi. Thiếu tá Murphy và Canley tổ chức đưa thương binh ra bãi đáp trực thăng ngoài bến tàu. Breth và Sewnson biết rằng phải nhờ TQLC giúp đỡ. Coolican cũng giúp Murphy liên lạc với trực thăng. TQLC và chiến xa của QL/ VNCH bảo vệ an ninh cho bãi đáp. Một chiếc trực thăng loại lớn CH-46 Sea Knight từ Phú Bài bay tới, bỏ đạn xuống và chở người bị thương đi. Tới đợt thứ hai thì phần lớn thương binh đã được di chuyển.
Có một lúc tình hình tạm lắng dịu. Trong khi TQLC giữ vị trí chung quanh bãi đáp trực thăng, thiếu tá Breth, Murphy và Swenson; đại úy Coolican, trung úy Drew và Lampo đứng vòng tròn nói chuyện đằng sau mấy chiếc xe tăng, bỗng có tiếng đại bác không giật nổ. Breth nghiêng đầu đúng lúc thấy một đám bụi đen đang bung ra trên mặt sông. Viên đạn bay tới chỗ họ như mũi tên đen. Một cách kỳ lạ, viên đạn bay ngang ngực họ, vượt qua khỏi chỗ họ đứng và mấy chiếc xe tăng, chạm và nổ vào vách tòa nhà ở đằng sau, làm tòa nhà bay mất một góc. Họ cúi xuống. Quân Cộng Sản từ phía bên kia đầu cầu Trường Tiền bắn vào chỗ TQLC và bãi đáp trực thăng.
Thiếu tá Breth và người tài xế, hạ sĩ Robert Hull của Sư đoàn 3/ TQLC nhảy vào phía sau chiếc xe tăng của QĐ/ VNCH đang bảo vệ mặt hông. Họ leo lên chỗ trí khẩu súng đại liên 50 trên xe tăng. Breth bắn trả qua bên sông và Hull tiếp đạn. Những người khác chạy dạt ra và leo lên các xe tăng khác. Các người lính VNCH trên xe tăng sợ không dám mở nắp pháo tháp ra.
Hai chiếc tàu Hải quân xuất hiện trên sông, dùng đại liên 50 nòng đôi bắn dữ dội vào bờ sông bên kia. Chiếc máy bay tải thương thứ ba đáp xuống bãi đáp được rồi lại bay lên với đầy thương binh bên trong máy bay. Mọi việc yên lặng trở lại.
Trước đó cũng lâu, Bộ Tham mưu LLĐN X-Ray ở Phú Bài tiếp xúc với Gravel bằng truyền tin. Lệnh của tướng LaHue – từ Đà Nẵng nói thẳng với ông ta là phải đưa Đại đội 1/ 1 Alpha và 2/ 5 Golf vượt qua sông Hương vào trong thành Mang Cá với Sư đoàn 1/ BB, chỗ Bộ Tư lệnh của Tướng Trưởng. Nơi nầy cũng giống như MAC.V, đang bị tấn công nặng.
Gravel nghi ngờ việc ấy. Khó lòng giữ được MAC.V trước lực lượng Cộng Sản đông đảo trong thành phố. Tập trung qua sông tấn công là làm cho vị trí MAC.V hiện giờ thêm bị đe dọa. Ông ta thấy hoàn toàn chẳng có lý do gì phải hy sinh những gì đã gặt hái được bằng cách vượt qua sông trong tình hình lực lượng đang yếu kém. Không có tin tình báo nắm rõ tình hình địch như thế nào, không ai chắc được điều gì sẽ xảy ra. Gravel muốn củng cố vị trí MAC.V. Ông ta trả lời điện cho tướng LaHue như vậy. Lực lượng đặc nhiệm X-Ray phúc đáp: “Thi hành”.
Gravel chỉ có thể lắc đầu. LaHue không nắm rõ tình hình ở Huế. Gravel nghĩ rằng LaHue cho Huế là một xóm nhà lá chứ không phải là một thành phố có nhiều nhà cửa xây cất chắc chắn hiện đại hay sao? Có thể nào đưa ra một vài ví dụ báo cho bộ tham mưu ở xa biết sự thực về trận địa họ đang đối diện.
Gravel bỏ lại xe tăng của TQLC tại bãi đáp trực thăng vì ông ta cho rằng cầu Trường Tiền (Nguyễn Hoàng) yếu, không chịu nỗi sức nặng. Khi họ yêu cầu các chiến xa VNCH tháp tùng với họ thì toán xe tăng nầy từ chối.
Gravel bỏ lại Đại đội Alpha thiếu quân số và nhiều thương vong tại MAC.V, ra lệnh cho Đại đội Golf của đại úy Meadow tiến lên cầu, trong khi đó thì xe tăng VNCH và TQLC thì yểm trợ mặt hông, bắn dọc theo bờ sông. Trung đội đi đầu qua được nửa cầu thì súng nổ.
Mười người đi tiên phong chết và bị thương. Súng địch đặt ở xa. TQLC bắn trả vào đó. Hạ sĩ Lesler A. Tully, đi trước, nhảy vào một hầm súng của địch, giết 5 lính CSBV núp trong đó. Với hành động nầy, anh được thưởng Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao bạc. Cây cầu được an toàn, Gravel cùng ban tham mưu và phần còn lại của Đại đội Golf vượt qua cầu. Gravel nhìn vào hầm địch thấy năm người lính CSBV nằm gục trong đó, giống như mấy con sâu nằm trong cái hộp thiếc. Một người lính Bắc VN còn thở. Thông dịch viên của Gravel, một hạ sĩ TQLC quì xuống bên cạnh nói với anh ta, bằng tiếng Việt để hỏi tin tức. Người lính nầy chưa nói được gì thì tắt thở.
Những người bị thương được đưa lên xe, sĩ quan tuyên úy Lyons đi theo, quay trở lại MAC.V. Lúc ấy trời đã chiều, mặt trời còn chiếu trong mắt những người đang ở bên phía Thành Nội. Lính TQLC quẹo phía trái (theo đường Trần Hưng Đạo – ngd), đi qua từng căn nhà và hàng cây bên ngoài Thành Nội rồi ngoặt vào một con đường dẫn vào bức trường thành hùng vĩ (của Thượng Tứ, – ngd). Con đường nầy đi vào bộ Tư lệnh Sư đoàn 1/ BB VNCH. Tiểu đội đi đầu vừa tới hàng cây thì bị phục kích. Từ những căn nhà phía trước, hỏa tiển B-40 và AK-47, súng máy và đại bác không giật nổ dữ dội. Đạn bắn xuống đường. Mảnh xi măng gạch vỡ bay tung tóe. Lính TQLC nằm sát vào ngưỡng cửa nhà dân hay núp trong các đường hẽm. Họ bắn trả. Người bị thương và chết còn nằm ngay tại chỗ, chưa kéo đi được. Y tá của Đại đội Golf, Donald, v.v… Kierkham chạy tới trước cố kéo những người bị thương. Anh ta cũng bị thương nhưng chẳng lưu tâm, tiếp tục giúp đỡ thương binh, băng bó qua loa cho họ. Anh ta chạy qua một vị trí bên kia đường. Một tràng đạn AK bắn anh chết ngay tại chỗ.
Đại đội của đại úy Meadow tới lui đều không được. Súng nổ liền hai giờ đồng hồ không dứt.
Đại đội Golf có 150 binh lính, có 5 chục vừa bị thương vừa chết. Gravel biết không thể tiếp tục được. Không thể chấp nhận thương vong như thế. Không cần chờ lệnh của LLĐN X-Ray, ông ta cho lệnh rút lui về bên kia sông. TQLC tung một loạt trái khói vàng. Quân CSBV bắn bừa vào đám khói trong khi TQLC Mỹ rút lui từng tấc một, kéo theo những người chết và bị thương.
Gravel gọi điện cho cho đại tá Adkisson, yêu cầu gởi người và trang bị tới giúp di tản thương binh. Vì MACV đang bị tấn công và có thể bị địch tràn ngập, Adkisson không đáp ứng lời yêu cầu. Vã ông ta cũng chẳng có lực lượng nào để giúp đỡ.
Phía bên kia cầu, Gravel vẫn chờ. Chẳng thấy dấu hiệu gì, ông ta tức điên lên. Cái ông đại tá chó má kia làm như MACV là tài sản riêng của ông ta, chẳng muốn giúp đỡ hay chia xẻ gì cùng với ai cả.
Gravel cùng với hiệu thính viên và người thông dịch TQLC chạy ngược về phía bên kia cầu, vào khu MAC.V và hỏi Adkisson giúp đỡ cái gì đâu? Adkisson đứng yên, chẳng nói gì cả. Gravel nổi đóa. Cuối cùng mấy sĩ quan trẻ cùng mấy binh nhì quân dịch tự động leo lên xe, lái chạy qua cầu, chở Gravel đi với họ. Mấy anh lính TQLC khôn khéo cột mấy chiếc xe của người Việt Nam đang đậu bên đường lại với nhau. Người bị thương và người chết được chất lên xe.
Quân CSBV vẫn còn bắn dữ dội. Một chiếc xe GMC của Mỹ từ phía bên kia cầu chạy qua dừng lại một bên cầu, bắt đầu bắn vào vị trí địch bằng đại liên 50. Breth từ bãi đáp trực thăng nhìn qua, thầm phục toán xạ thủ can đảm. Ông ta thấy có hai lính BV từ trong một căn nhà phóng ra. Cách khoảng mấy chục thước, hai người nầy quăng lui một bọc chất nổ. Chiếc xe GMC và người bị nổ tung lên.
Cuộc di tản vẫn tiếp tục.
Thiếu tá Murphy đi tới mấy chiếc xe để đích thân lo việc chuyển thương binh đi. Tuyên úy Lyons lúc nảy đi theo thương binh nay vừa theo xe GMC quay trở lại, chạy tới chỗ Murphy, giúp một anh TQLC mang một người bị thương lên xe. Bỗng một trái B-40 nổ dữ dội, đẩy Lyons văng ra một quảng cách đó mấy bước. Ông ta nằm trên đất, rồi bò băng qua đường tìm chỗ núp. Lyons thấy máu chảy ướt cả chân vì mảnh đạn đâm vào đùi và tay. Một y tá chạy tới băng cho Lyons. Ông ta lại đứng dậy, khập khiểng giúp người ta chuyển số thương binh còn lại. Lyons chợt thấy Murphy nằm cách đó không xa, bị thương nặng vì quả đạn B-40 lúc nãy. Murphy vẫn còn tỉnh. Lyons giúp chuyển người bị thương lên xe trong khi đó thì chân ông ta sưng to lên, cuối cùng không đi được nữa. Các TQLC khác lo lắng cho tình trạng đau đớn của vị tuyên úy của họ, bèn đẩy ông lên xe GMC. Lyons cùng Murphy được chở về MACV.
Cần có thêm hỏa lực bắn qua cầu để chặn địch. Việc nầy là nhờ binh nhì Nolan J. Lala, một trong những tài xế GMC của Đại đội Quân vận 1. Lala tóc đen, 19 tuổi, bỏ học năm lớp 8, quê ở Denver, Colorado. Tính khí ngang tàng, hay gây chuyện rắc rối, trông sáng sủa, can đảm, nhưng chẳng bao giờ muốn tuân lệnh các ông trung sĩ hay sĩ quan chỉ huy, đặc biệt sau khi anh ta kiếm được một huy chương Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao bạc trong trận đánh nhau với Cộng Sản ở Huế. Lala đang ở bãi đáp trực thăng, quan sát bên kia sông, bỗng tự ý kêu thêm mấy tay tình nguyện nữa, nhảy lên xe, lái qua bên kia cầu. Khi anh ta vừa ngừng xe thì đám của anh trên xe nhảy xuống giúp tải thương binh. Lala thì tụt khỏi ghế tài xế leo lên vị trí xạ thủ đại liên trên xe. Anh ta bắn liên hồi, quét qua quét lại các vị trí địch. Mọi người cố làm cho xong việc để rút khỏi nơi đây. Lúc ấy, có một quân nhân mặc quân phục QĐ/ VNCH từ trong một cửa hàng bên đường chui ra. Qua thông dịch viên, người nầy cho biết ông ta là một trung úy y sĩ Nhảy Dù VNCH về quê ăn Tết. Chẳng có cách nào để xác minh lời ông ta cả. Tuy nhiên, đang có nhiều người bị thương, Gravel nghĩ rằng Chúa biết họ đang cần một y sĩ. Hãy nắm lấy dịp may. Gravel nói với thông dịch viên giữ ông bác sĩ nầy lại và đưa lên xe GMC về MAC.V. Mấy chiếc GMC và TQLC quay trở lại bên kia cầu, binh nhất Lala bắn yểm trợ. Anh ta là người lính cuối cùng trở về bờ phía nam.
Tại bãi đáp trực thăng, thiếu tá Breth gần như choáng váng khi thấy binh lính quay về. Súng trên cầu bắn rát đến nỗi ông ta có cảm tưởng như đốt pháo đêm lễ Độc lập Hoa Kỳ vậy.
Trong căn cứ MACV, Gravel lại đấu khẩu với Adkisson một lần nữa. Adkisson không thích ông bác sĩ Việt Nam. Ông ta nghĩ rằng đó có thể là một cán binh Việt Cộng giả dạng xâm nhập.
- “Ông ta là ai?”
- “Ông ta là bác sĩ.
- “Làm sao anh biết?”
- “Vì ông ta nói ông ta là bác sĩ.
Gravel thấy mệt, không phí thì giờ cho những chuyện lặt vặt như vậy. Ông ta cảm thấy bệnh vì một ông đại tá như vậy. TQLC chẳng ưa gì ông. Khi Gravel cố gom ban Chỉ huy trong MAC.V lại, nhưng Adkisson chẳng dành một ngôi nhà nào cho TQLC cả, để họ ở ngoài sân. Cuối cùng, Gravel mắng ông đại tá là thứ cứt bò và đòi đưa binh lính của mình ra khỏi MAC.V.
Cách MAC.V vài khu nhà, có mấy nhân viên dân sự Mỹ đang mắc kẹt trong trụ sở của cơ quan CORDS. Adkisson nói với Gravel cần di tản những người mắc kẹt nầy về MAC.V tức khắc. Một tiểu đội TQLC được lệnh đi giải cứu. Một chiến xa hộ tống. Bất thần cỡ mấy chục quả B-40 bắn vào xe tăng dữ dội. Chắn bùn, ống khói, xăng bung lên trời, cháy và bốc khói. Ở MAC.V nhìn ra ai cũng thấy khiếp. Người ta nghĩ rằng người trên xe chẳng ai còn sống. Vậy mà chiếc xe tăng chạy quay trở lui MACV. Xe mở nắp ra và thiếu tá Breth thấy người ngồi trong xe nhe răng cười. Thật là một khung cảnh kỳ lạ.
Chiếc chiến xa ấy cùng một chiếc khác vòng trở lại chỗ phục kích để cứu tiểu đội TQLC đang kẹt ở đó.
Để giúp di tản thương binh, thiếu tá Breth và Swenson tổ chức một toán khoảng hai chục người tình nguyện, gồm TQLC, bộ binh và quân nhân Úc vừa tiến vừa bắn cặp bên hông xe tăng. Một chiếc xe tăng khác bắn thủng một lỗ vách tường, nhờ đó, họ chui qua tường được và thấy một ngôi nhà thờ nhỏ bên trong đó. Tại đây có khoảng hai chục bà xơ cùng bốn chục em bé gái. Binh lính vẫn còn nổ súng nên những người dân thường nầy hết sức sợ hãi. Breth ra lệnh cho hai binh sĩ hộ tống những người dân nầy di tản đến MAC.V.
Nhóm binh sĩ tiếp tục di chuyển song song với các xe tăng và TQLC. Breth đi vào hành lang của một tòa nhà. Cùng đi với Breth là một tài xế xe GMC của Sư đoàn 1 Không Kỵ bất thần một đêm đi ngang Huế phải dừng xe ngủ lại. Hai người đi vào một căn phòng, thình lình nhìn qua của sổ thấy một người lính CSBV đứng trên đầu một bức tường bên ngoài. Breth chỉa súng và bóp cò. Chẳng kết quả gì. Tài xế GMC cũng chỉa súng về hướng đó bắn một tràng. Người lính CSBV vụt một trái lựu đạn về phía họ rồi phóng đi mất. Trái lựu đạn lăn trên mái nhà nhưng lại rơi vào chỗ núp của người lính CSBV nổ bùm, hất anh ta vào tường. Breth bắn một tràng M-16 và chạy ra phía cửa sổ. Bốn người lính CSBV từ đằng sau bức tường bỏ chạy. Breth và người tài xế đuổi theo, bắn mấy tràng đạn ngang hông họ. Cả bốn gục xuống.
Vì hết đạn, toán lính Mỹ quay lại MAC.V. Lúc nầy các xe tăng cũng như TQLC đem được mấy người bị thương thuộc toán đi tiên phong lúc nãy về. Trụ sở CORDS, nơi họ được lệnh tới giải cứu rơi vào tay CSBV.
Những người bị thương được đưa vào phòng quân y, bác sĩ Bernie chăm sóc cho họ. Lyons nằm trên một cái băng-ca gần Murphy. Một người lính TQLC trẻ bị thương đang nằm bên cạnh. Anh ta vừa đau vừa sợ, và khóc. Murphy gọi những người đã cáng anh lính tới, nói với họ là bảo anh ta im đi, mọi việc sẽ tốt đẹp cả thôi. Lyons lo lắng – Murphy bị thương nặng, nhưng anh ta vẫn còn tỉnh, còn khuyến khích được những người bị thương khác. Lyons thấy Murphy cũng như Gravel vậy, bao giờ cũng nghĩ tới người khác trước khi nghĩ tới bản thân mình.
Cách đó không xa, đại úy Coolican đang gọi xin máy bay tải thương. Nếu không chuyển đi gấp, nhiều người chắc phải chết, trong số có cả hiệu thính viên của ông ta là Frank Dozerman, một người bạn cũ: Walt Murphy, đang bị xuất huyết nội. Cuối cùng, người ta biết là đã quá trễ. Breth và Swenson đỡ tuyên úy Lyons dậy khỏi cáng, đưa tới chỗ Murphy. Lyons chỉ kịp làm phép thánh trước khi Murphy qua đời. Người ta lấy poncho đắp lên người ông và đặt xác ông vào chỗ an toàn. Breth, Coolican và Awenson từng phục vụ dưới quyền chỉ huy của Murphy một thời gian dài trước khi qua Việt Nam. Mọi người cảm thấy buồn và đau đớn. Khi Gravel được báo tin buồn nầy; ông có cảm tưởng như không còn nghị lực nữa. Ông ta và Murphy từng làm việc với nhau rất gần gủi, vui đùa với nhau, trải qua một mùa Lễ Tạ ơn ở Cồn Tiên, mùa Giáng Sinh ở Quảng Trị và mong muốn được làm việc ở Washington D.C. sau khi ở Việt Nam về.
Một lát sau, có tin máy bay tải thương đang trên đường bay tới.
Những người bị thương được đưa lên xe GMC và chuyển ra bãi đáp bên bờ sông Hương. Họ vừa đi vừa tác xạ mở đường, do đó số thương binh nặng của họ từ 16 tăng lên 2 chục. Trời tối đen như mực và sương mù, chiếc trực thăng đang bay trên đầu. Hạ sĩ Chisler, một người to cao và lanh lợi, da đen, thuộc đơn vị 1/ 1 TQLC liên lạc với phi công bằng máy truyền tin. Anh ta hướng dẫn cho phi công đáp máy bay xuống đúng ngay vị trí.
Phi công hỏi:
– “Anh ở đâu? Tôi không thấy.”
Hạ sĩ Chisler đưa tay đập nhẹ nhẹ vào mũi chiếc trực thăng. Phi công lại hỏi có bao nhiêu thương binh.
– “Hai chục, thưa ông.”
– “Anh gọi có 16 người.”
Chisler nói: “Vâng. Đúng vậy, Nhưng có điều buồn cười khi đến đây, chúng tôi nghĩ là ông có thể chở thêm.”
Họ đưa người bị thương lên máy bay, một chiếc Sea-Knight. Phi công rồ máy bay khỏi bãi đáp. Một trong những người có mặt trên máy bay là Frank Dozerman, anh ta chết trên không, trên đường tới bệnh viện.
Các TQLC ở bãi đáp lại mở đường về lại căn cứ MAC.V.
Đêm hôm đó, tất cả bọn họ canh giữ MAC.V, bãi đáp trực thăng và bến tàu. Họ tổ chức lại đơn vị để phòng thủ đêm, phản ứng khi CSBV tấn công. Họ phát hiện địch, la hét, nguyền rủa, bắn trả ầm ầm. Quân CSBV ngưng bắn, các TQLC lo lắng bồn chồn, mệt mỏi, và nổ súng suốt đêm.
Trung tá Mark Gravel ngồi bên cạnh máy truyền tin. Chưa bao giờ ông ta thấy trống rỗng và tuyệt vọng đến như vậy. Bạn của ông, Gordon bị thương nhiều nơi trên mình bây giờ đang nằm một nơi nào đó trong bệnh viện. Chỉ có phép lạ mới cứu Batcheller khỏi chết. Anh chàng TQLC trẻ đáng nể, Larry Williams cũng đã chuyển đi rồi, không biết chết sống ra làm sao! Năm chục TQLC bị thương và chết khi vượt qua cầu Trường Tiền. Ông ta muốn chưởi thề một tiếng: Thật là phí phạm. Tại sao? Chỉ là vô nghĩa. Mạo hiểm vô ích qua cái cầu chết bằm ấy. Để làm gì? Để đi uống càphê với Tướng Trưởng, coi thử ông ta làm sao, bày tỏ lòng tôn kính. Với chỉ có hai đại đội thiếu quân số, Gravel tính thử Tướng Trưởng và sư đoàn của ông ta sao lại không đến tiếp xúc với Gravel?
Điều ông ta chỉ có thể cám ơn là quân CSBV nổ súng quá sớm vào Đại đội Golf khi đại đội nầy tìm đường vào Thành Nội. Nếu họ cứ bắn thật dữ và đẩy TQLC vào những con đường phố chằng chịt bên đó thì có lẽ chẳng ai còn sống hoặc bị bắt hết, và giữa họ và MAC.V chẳng còn gì nữa cả. Ông ta trầm ngâm suy nghĩ, việc ấy làm cho trận đánh cuối cùng của tướng Custer (6) trông giống như đi vào khu rừng gỗ. Gravel nghĩ rằng những chú lính CSBV nổ súng sớm là vì họ còn quá trẻ, thiếu kinh nghiệm. Hoặc có thể cấp chỉ huy của họ ra lệnh như thế. Dù bằng cách nào thì bên phía địch cũng đã cố xiết chặt hỏa lực của họ.
Đó là một ngày quá dài, Gravel không còn cảm thấy kiệt sức nhưng rõ ràng ông ta cũng thể tài nào ngủ được.
hoànglonghải

Người dịch chú thích:
Đúng ra là năm Ất Dậu, 1885, Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết đánh úp quân Pháp ở Huế, thua trận. Triều đình và vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị.
Con sông đào nối với sông Hương tại ngã ba trường Bình Linh thường gọi là sông An-Cựu. Ca dao Huế có câu:

Núi Ngự Bình trước tròn sau méo
Sông An-Cựu nắng đục mưa trong
Đôi ta như chỉ lộn vòng
Thương thì thương vậy nhưng chuyện vợ chồng khó nên.
Ngay chính người Huế cũng vậy, ai ai cũng gọi nó là sông An Cựu. Vì những lý do nào đó (?!), trên bản đồ quân sự xuất bản của Nha Địa Dư, trụ sở ở Đà-Lạt thời chế độ Ngô Đình Diệm, tự ý đổi tên sông đào An-Cựu thành sông đào Phú Cam. Tác giả cuốn sách nầy, viết lại theo tên trên bản đồ quân sự, nên gọi nó là sông Phú Cam. Phú Cam chỉ là một xóm, thuộc làng Phước Quả, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Gia Đình ông Ngô Đình Diệm, kể từ đời thân phụ ông là Ngô Đình Khả, định cư ở xóm nầy. Ông Ngô Đình Khả gốc ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Theo một số người Huế đã lớn tuổi nói cho tôi biết thì thật ra, quê quán ông Ngô Đình Khả cũng khộng thuộc làng Đại Phong mà thuộc một vạn chài, tức là làng “thủy cư”, thường neo thuyền kế làng Đại Phong. Để tránh cái gốc thuyền chài như Mặc Đăng Dung trong lịch sử, ông Ngô Đình Khả khai quê quán ở Đại Phong thay vì tên của vạn thuyền chài của ông.
(3) Đoạn nầy tác giả hư cấu nhưng không đúng thực tế vì đêm mồng một tết trời chỉ có một chút trăng lúc đầu hôm mà thôi. (Mồng một lưỡi trai, mồng hai lá lúa, v.v…)
(4) Đoạn nầy cũng hư cấu không đúng. Vì tình hình an ninh, nhà cầm quyền Huế cấm neo thuyền thuyền dưới chân cầu.
(5) Street without joy (Con đường buồn thiu) của Bernard B. Fall. Bernard B. Fall chết vì mìn tại Phò Trạch, Thừa Thiên lúc 4giờ30 chiều ngày 21 tháng Hai năm 1967, thọ 40 tuổi, khi ông đi theo một toán TQLC Hoa Kỳ trong một cuộc hành quân. Lời cuối cùng của ông ghi trong máy ghi âm ông đeo trước ngực là Last reflections On A War (Những phản ảnh cuối cùng về một cuộc chiến –
(Xem “Con Đường Buồn Thiu” trong Viết Về Huế -tập 1)
(6)- Custer, George Armstrong (1839-76): Một sĩ quan kỵ binh nổi tiếng của Hoa Kỳ, ông tự chứng tỏ là một nhân vật lãnh đạo giỏi của lực lượng kỵ binh Liên Bang trong cuộc nội chiến Mỹ. Năm 1866 được chỉ định làm trung tá, tham gia lực lượng của tướng Hancock trong cuộc tiểu trừ bộ lạc Cheyenne. Trong một trận đánh nổi tiếng ở Little Bighorn (bắc Wyoming và nam Montana), ông bị giết chết.

ld6bdq
01-30-2015, 17:09
Ngày thứ hai tại Cố Đô (1 tháng 2 năm 1968)

http://i58.tinypic.com/2dgqp0l.jpg

Vào ngày thứ nhì của trận đánh, thứ Năm, ngày 1 tháng 2 năm 1968, Bộ Chỉ Huy LLĐN X-Ray, cách Huế 8 dặm, bên QL1, trong không khí phức tạp vừa lạc quan, vừa hoài nghi và tin tức sai lạc. Cọng thêm vào đó là vấn đề cố hữu của các chỉ huy trưởng ở Việt Nam – do áp lực từ Hoa Thạnh Đốn, muốn nói những gì họ muốn nghe mà thôi. – Người ta có thể hiểu tại sao Tướng LaHue, khi được phái viên UPI phỏng vấn nói là vào ngày thứ hai của cuộc chiến: “Hoàn toàn chắc chắn là chúng tôi kiểm soát phía nam thành phố. Chúng tôi nghĩ là họ (CSBV) không thể nào chịu đựng nỗi. Tôi biết họ không thể chống đỡ được. Tôi không nghĩ là họ có đủ tiếp tế, và khi xử dụng hết những thứ họ đem lẻn vào được thì họ không còn gì nữa cả.”
Không phải một mình Tướng LaHue tin lầm như vậy. Tin tức báo chí đưa ra ở Saigon dựa trên tin tức của các phân bộ MACV nói rằng địch đang bị càn quét. Toán cố vấn Quân Đoàn 1 ở Đà-Nẵng cho biết quân Đồng Minh sáng nay đã đẩy quân Việt Cộng ra khỏi Huế và Tư lệnh Quân đoàn 1, Tướng Lãm nói rằng địch đã bị đánh bại ngoại trừ một trung đội đang cố thủ trong thành nội.
Huế, Cọng Sản đang nắm quyền kiểm soát thành phố.
Trong Thành Nội, Tướng (bấy giờ là đại tá) Trưởng và binh lính của ông vẫn còn giữ được Bộ Tư Lệnh trong thành Mang-Cá. Ở phía nam thành phố, lực lượng của Trung Tá Gravel giữ được Alamo (1). Trong thành phố thì các nhóm Mỹ và binh lính Nam Việt Nam bị cô lập, đang cố giữ cơ quan của họ mà Cộng sản bỏ qua hay đang bao vây. Vào lúc nầy chẳng ai có đủ sức mạnh quân sự để giúp đỡ các nhóm nầy hay phản công địch.
Quân CSBV và Việt Cộng (VC) thực hiện một công tác tuyệt hảo khi xâm nhập và chiếm giữ thành phố. Họ di chuyển nhanh và lén lút. Điều quan trọng nhất là có thể hỗ trợ cho nhau trong thành phố. Một cách lý tưởng, quân Mỹ và quân Nam VN đã triển khai các đơn vị trong toàn thành phố, cắt đứt đường tiếp tế của địch trong khi TQLC càn quét các toán quân địch đang thiếu tiếp liệu, lương thực, quân số mà thương vong càng lúc càng cao vì bị kẹt lại trong thành phố. Nhưng tình hình thì không phải hoàn toàn lý tưởng. Đây là cuộc tấn công vào dịp Tết. Cuộc tấn công vào tòa đại sứ Mỹ coi như thất bại, nhưng trận đánh ở Saigon thì chỉ mới bắt đầu. Khe Sanh còn tiếp tục bị bao vây, nhiều thị xã ở lưu vục sông Cửu Long bị địch chiếm. Mặc dù Huế là mặt trận tấn công vào dịp Tết lâu nhứt và đẫm máu nhứt, sự lưu tâm của phe Đồng Minh vẫn đồng nhứt. Căng thẳng quá độ vào dịp Tết, cọng thêm với sự kiện Bộ Chỉ huy X-Ray điều động một cách mập mờ khó hiểu các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1 TQLC chỉ cho phép một vài đơn vị liên hệ hành quân ở Huế. Việc bao vây thành phố Huế là điều cần thiết, theo tính toán, phải cần tới 16 tiểu đoàn bộ binh. Rõ ràng không có sẵn một số lượng binh lính như vậy.
Trong cố gắng đánh bại quân địch trong và ngoài Huế, tướng John J. Tolson, một cấp chỉ huy có trách nhiệm cao và được tưởng thưởng nhiều huy chương của Sư Đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ được lệnh gởi lực lượng trực tiếp đến bên ngoài thành phố Huế. Sư Đoàn 1 Không Kỵ được ủy nhiệm tham gia những mặt trận nặng như Quảng Trị và bất cứ nơi nào khác. Vì vậy, ngày 2 tháng Hai chỉ có tiểu đoàn 2 của trung đoàn 12 Kỵ Binh triển khai ở căn cứ Evans, phía bắc Huế. Họ được trực thăng vận đến một bãi đáp kế bên Quốc Lộ 1, cách Huế 10 cây số về phía tây-nam và tiến nhanh về phía thành phố. Sông Hương ở phía bên hông phải của cánh quân nầy. Trước khi trận đánh kết thúc, thêm ba tiểu đoàn kỵ binh được trực thăng vận tới một nơi gọi là “Hành Quân Jeb Stuart”. Thời tiết rất xấu, mây thấp, vấn đề tái tiếp tế gặp nhiều khó khăn, khó thực hiện các cuộc thả dù tiếp tế mà trong nhiều trường hợp, đó là phương cách duy nhứt, ngay tại căn cứ chính Evans cũng vậy. Việc chiến đấu trong rừng rậm hết sức căng thẳng, ít nhứt có một trung đoàn CSBV đang hoạt động trong vùng. Công việc tiến hành hết sức chậm chạp.
Kết quả là địch quân ở Huế, – dưới sự kiểm soát của trung đoàn 6 CSBV – có thể duy trì lực lượng của họ. Ngoài việc lấy được một số lớn vũ khí đủ loại do Mỹ chế tạo cho Thiết Giáp QĐ/ VNCH, quân CSBV tiếp tục nhận được tiếp liệu từ phía tây Huế chuyển tới. Ngoài ra, họ còn có nhiều đường tiếp tế khác chuyển vận tới như lương thực, đạn dược, trang bị y tế; họ cũng được tăng cường lực lượng. Để tăng cường cho 9 tiểu đoàn chiếm đóng Huế trong ngày đầu tiên, có thể thêm 5 tiểu đoàn nữa đã vào Huế; tiểu đoàn 146, trung đoàn 5 CSBV, tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 6 của trung đoàn 24/ CSBV, tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 8 trung đoàn 90/ CSBV. Tính chung, khoảng 6 ngàn quân CSBV đối đầu với TQLC và Quân Đội VNCH. (Lực lượng tăng cường nầy cho thấy rõ là không đủ để thắng Cộng Sản. Sau trận đánh có cuộc thảo luận, cho rằng CS đã khôn khéo kéo một trong những sư đoàn 10 ngàn người của họ ẩn náu trong vùng núi non bao vây căn cứ TQLC Hoa Kỳ ở Khe Sanh gởi cho mặt trận Huế – một khả năng thúc đẩy tướng Creighton Abrams nói với một phóng viên nhà báo hồi tháng Giêng/ 1969 rằng: “Chúng tôi vẫn còn chiến đấu ở đây.”
Thời tiết xấu cũng có lợi cho địch. Trời lạnh, một cái lạnh bất thường 50 độ, gió bấc mưa phùn của cơn “Gió Mùa Đông Bắc” đôi khi biến thành những cơn mưa ẩm ướt và lạnh. Cùng với mưa là mây che phủ bầu trời và sương ngang mặt đất cản trở máy bay trực thăng và phi cơ oanh tạc hỗ trợ cho TQLC. Quân Đồng Minh lại ở vào vị thế bất lợi vìtướng Lãm, tư lệnh Quân Đoàn 1 yêu cầu tránh tối đa thiệt hại cho dân chúng và giảm thiểu việc làm hư hại thành phố lịch sử. Pháo binh, bom và bom lửa bị cấm xử dụng.
Với những bất lợi đó, các nhà chỉ huy quân sự CSBV có vài sai lầm nghiêm trọng và tính toán trật. Tin vào đường lối tuyên truyền của mình, Cộng Sản tin rằng dân chúng sẽ nổi dậy, hoan hô người đến giải phóng họ và chiến đấu cùng với quân Cọng Sản. Điều đó chẳng bao giờ có. Mặc dù có một số nhỏ cảm tình viên theo Cọng Sản, – hầu hết bọn họ là các sinh viên học sinh trẻ làm điểm chỉ viên cho Cộng Sản – toàn bộ dân chúng tìm cách tránh xa nơi có đánh nhau.
Địch quân cũng không có khả năng bảo vệ thành phố sau khi chiếm được nơi nầy. Họ không phá được cầu An Cựu trên sông An Cựu và cắt đứt đường giao thông giữa Phú Bài và khu Nam thành phố Huế, rồi lại thất bại trong việc chống lại quân Mỹ phản công khi vượt qua cầu nầy. Họ cũng thất bại nhiều lần khi cố đánh phá các cây cầu trên Quốc Lộ 1, nối liền Phú Bài với Huế. Họ hy vọng chiếm Huế trong 1 đêm rồi dùng Huế để tấn công, lập các phòng tuyến kháng cự nằm bên ngoài Huế. Tuy nhiên, MACV và Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 tự biến thành các điểm kháng cự từ bên trong – họ phải chấp nhận TQLC phản công từ bên trong đánh ra – Quân địch chỉ sở trường khi tác chiến ở vùng quê, rừng rậm, và thất bại khi tấn công Huế, không chiếm được hai vị trí quan trọng (MACV và BTL/SD 1/BB) sau khi TQLC Mỹ tăng cường. Họ bị đánh bật lui, trụ lại và tiếp tục cầm cự.
Hành động như thế là họ tự giết họ. Từ bên trong MACV, các binh sĩ của trung tá Gravel có thể vượt qua bên kia đường, khu trường Đại Học, bảo vệ khu bờ sông, bảo vệ vùng trời để trực thăng hoạt động được, mang theo tiếp liệu và lực lượng tới tăng cường.
Hạ sĩ Carter và số binh sĩ còn lại của đại đội Fox 2/5 trải qua một đêm căng thẳng ở trên đồi, theo dõi tiếng nổ và các vệt lửa nổ lốp đốp ở thung lũng bên dưới. Tới sáng, một đoàn xe GMC chạy tới. Họ lên xe và tài xế mở tốc lực 60 dặm một giờ. Mọi người ai cũng sợ bị phục kích. May sao chẳng có tiếng súng nào.
Họ đi qua một ngôi làng bên đường và thấy cảnh tượng xảy ra đêm trước. Người ta đang khóc than rên xiết bên cạnh xác chồng, mẹ hay con cái. Tất cả họ, ai cũng mặc đồ tang. Xe chạy qua một làng và thấy một đơn vị hỗn hợp Việt Mỹ phía sau hàng kẽm gai. Xác Việt Cộng nằm vắt trên hàng rào kẽm gai và ruồi bu đen. Một Việt Cộng nằm chết gần đường đi, xác bị bắn, mất đầu. Carter không tin ở mắt mình khi chợt thấy chiếc xe chạy trước không lạng qua một bên được. Bánh xe cán lên đầu anh ta kêu bụp một tiếng như tiếng bí đỏ bị cán vậy. Carter la lên: Trời ơi! ghê quá!
Họ về tới căn cứ Phú Bài, được tiếp tế thêm, nhận thư, thức ăn nóng, và đi mua hàng PX. Họ trải qua một đêm trong lều vải và tới sáng hôm sau, ngày 1 tháng Hai, tập trung ở bãi trực thăng. Lệnh đi Huế. Đại đội trưởng, đại úy Michaels P. Downs đã có mặt sẵn ở đó. Carter chẳng biết nghĩ thế nào về ông đại úy nầy. Ông ta là một sĩ quan giỏi, một người lạnh lùng, rất chuyên nghiệp. Cái vẻ lạnh lùng ấy làm Carter không ưa. Tuy nhiên, Carter nghĩ có thể cấp chỉ huy gạt bỏ tình cảm riêng tư qua một bên và bày tỏ một thái độ lạnh lùng để công việc được thực hành. Tuy vậy, cũng có khi tuồng như anh ta chẳng quan tâm đến những điều đó nữa. Carter tin tưởng đại úy Downs, con người biết phải làm gì khi đánh nhau với địch.
Chỉ trong mấy phút, mấy chiếc CH-46 Sea Knight bay đến, trông giống như những con châu chấu khổng lồ. Đại đội Fox trên đường bay đến Huế. Rock Christmas là đại uý, 27 tuổi, quê ở Yeadon, Pennsylvania, cưới con gái của đại tá Davids Lownds, người hùng Khe Sanh. Đại úy Christmas chỉ huy đại đội Hotel 2/5 khi trận đánh Tết xảy ra hôm 31 tháng Giêng. Quân CSBV tấn công cây cầu trên QL 1 do binh lính anh ta canh giữ. Cuộc tấn công kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Tới sáng, địch quân bị đẩy ra phía bờ sông.
Đại úy Chritmas sẵn sàng phản công thì có tin điện. Anh ta la to trong máy:
– “Cái gì? Đừng có giỡn.”
– “Không có. Bộ chỉ huy muốn chúng ta rút ra QL-1 chờ lệnh mới.”
Binh lính kéo ra tới đường. Christmas điện đàm với tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 5/ TQLC. Trung tá Ernest Cheatham giải thích tình hình các đơn vị: Huế bị địch tấn công. Đại đội Golf của Chuck Meadow đang hành quân với 1/1, Đại đội Fox của Mike Downs, đang trên đường tới Phú Bài để được vận chuyển đi Huế.
“Sau đó có thể là anh” – Cheatham nói với Christmas – “Thực ra, tất cả chúng ta sẽ gặp nhau ở Huế.” Rồi ông đại tá càu nhàu: “Tại sao họ thường đưa từng phần chúng ta vào mặt trận?”
Carter ngồi dựa lưng vào tấm vải bạt nịt đai của chiếc trực thăng cùng với số binh lính còn lại, thấy cấn một cục gì đó trong dạ dày. Những cái bồn chồn trước trận đánh nầy; cứt thiệt! mình lại đi.
Khi gần tới Huế, máy bay bay thấp để tránh súng phòng không, là là vào bãi dáp. Carter nhìn qua của sổ tròn bên thân máy bay, thấy sông Hương, cầu Trường Tiền, mái nhà, từng hàng cây xanh và lửa tóe ra từ các họng súng. Một tràng đạn quạt vào máy bay. Hai TQLC bị thương nhẹ ở chân. Xạ thủ đại liên 50 ngồi ngay cửa quạt lại mấy tràng. Chiếc trực thăng hạ xuống bãi đáp bên bờ sông, kế bến tàu. Hai thủy quân lục chiến bị thương được ở lại trên tàu trong khi những người khác chạy nhanh ra khỏi máy bay, giống như các cầu thủ banh bầu dục mang nón sắt, áo giáp và balô. Súng nổ trên đầu. Carter chạy lom khom phía sau một bức tường cao cở 2 fít, chụm đầu với những người khác trong khi một tràng đạn bắn tới rào rào. Họ được gọi tập trung thành nhóm 3 người ở một bức tường dẫn tới bên trong khu đại học, rồi tiến xuống con đường ở bên phải để vào MACV. Các TQLC khác và ba người thuộc nhóm đầu tiên chạy đi. Carter với số còn lại chạy theo họ. Carter chú ý thấy một nhà báo đang quì bên kia đường máy quay phim nhỏ đặt trên vai đang quay phim họ. Anh ta quay mặt về hướng ống kính và cười, hy vọng ba má sẽ thấy anh ta đang cười. Bất thần anh ta té xuống một hố đạn, nằm dài ra, ba lô vuột khỏi vai, nón sắt và súng M-16 mỗi cái văng mỗi đường. Carter và hai người bạn thân vào được trong tòa nhà, trung đội anh ta đi khuất bãi đáp.
Họ lại chạy xuống đường, cũng không biết mình đang ở đâu, lại sợ. Họ gặp một chiếc xe tăng bên đường, bèn núp dưới nòng súng, vừa lúc đó thì tiếng súng gầm lên. Carter té giật lui lề đường, tai vưng lên, đầu lạch cạch. Một anh TQLC ló đầu ra khỏi pháo tháp nhìn bọn họ, nói một cách xỏ lá: “Xin lỗi nghe. Có thể đi qua được rồi.”
Cách mấy chục thước phía trước, họ thấy trung đội của họ đi vào MACV.
&
Ngày thứ nhì, từ lúc trời mới sáng, dân chúng bắt đầu ló dạng ra và rồi tuôn ra đường đông đảo ở phía đông nam của thành phố. Phần đông họ là đàn bà và trẻ em, một ít người già và binh sĩ VNCH. Trong một phút hy vọng, Gravel cho rằng chiến trận đã xong và đêm qua, quân địch đã rút lui, không còn cầm giữ dân chúng nữa. Chẳng bao lâu người ta biết không phải tình hình như vậy. Gravel chuyển người tỵ nạn cho các cố vấn quân sự, kiểm soát lại tình hình và củng cố vị trí.
Như vậy, ông ta có được Đại đội Alpha 1/1, Golf 2/5 và Fox 2/5 mới đến. LLDN X-Ray giao cho ông ta nhiệm vụ mới: Gởi Đại đội Fox tới giữ nhà lao, không cho địch giải phóng tù nhân ở đây. Nhà lao cách khu chiếm đóng của CSBV có mấy lô đất, và theo cảm tưởng chung, cũng như theo tin đại cương thì Cộng Sản đã giải phóng tù nhân ở đây ngay ngày đầu tiên. Ông ta báo cáo lại cho cấp trên là tù nhân đã được thả hết rồi. Do dó, lệnh của LLĐN được thu hồi.
Vì số thương binh càng lúc càng cao, chẳng bao lâu Gravel nhận ra rằng cần củng cố gấp con đường từ MACV ra bãi đáp trực thăng và bến tàu. Đánh chiếm từng nhà cách để mở đường đi như họ đã thực hiện đêm đầu tiên là điều khó chấp nhận được. Cuối cùng, Gravel ra lệnh dọn một con đường tới bãi đáp trực thăng, bằng cách đánh sập những chỗ tường cản trở đường di chuyển. Đại tá Adkisson giận tím người vì việc phá tường như thế nhưng chẳng làm sao hơn. Đó là con đường chuyển các người bị thương nặng ra bãi đáp trực thăng mà không gặp gì khó khăn. Tuy nhiên, Gravel lại phải đụng đầu với đại tá Adkisson vì một vấn đề nhỏ nhặt khác. Chỉ trong vòng mấy ngày TQLC không còn thuốc hút. Ở PX (Post Exchange) thì đầy thuốc lá nhưng TQLC lại chẳng ai có tiền mua, Adkisson lại chẳng muốn phát không cho lính rồi báo cáo là tổn thất khi đánh nhau. Cuối cùng, biết rằng có thể làm cho binh lính giận dữ, Adkisson ra lệnh mở cửa PX.
Trên lưng áo giáp, hạ sĩ Jim Soukup vẽ mắt một con bò mộng thật to và viết câu: “Gắng gặp may, Charlie.” Đó là cách làm ra vẽ hiên ngang của một anh TQLC mới 20 tuổi. Nhưng điều Soukup quan tâm là anh ta không muốn thấy một người Việt Nam nào khác trong đời anh ta nữa. Anh ta đã đi đánh trận 10 tháng và mới đi nghỉ phép từ Úc về được 6 ngày thì trận đánh nầy bắt đầu. Sau một thời gian nghỉ ngơi với những người đàn bà mắt tròn, má hồng, bia lạnh, Soukup quyết định là anh ta không muốn chiến đấu cho cái lỗ đít đầy máu hôi hám ấy. Hai tháng còn lại, anh ta muốn đứng ngoài rìa mọi việc nhưng trận đánh Tết làm tan hoang kế hoạch của anh ta. Rồi ngày 1 tháng Hai, lệnh đưa ra là lên yên, nạp đủ đạn vào súng. Và anh ta được đưa tới Phú Bài giữ nhiệm vụ tiểu đội trưởng như cũ. Là một TQLC, xạ thủ súng đại bác không giật. Anh ta tiếp tục phàn nàn. Người trong tiểu đội đều là bạn thân của anh.
Họ lên một chiếc Sea Knight, kéo lên theo khẩu đại bác không giật 106ly, nặng 350 pound rồi máy bay bay lên. Chiếc trực thăng chất đầy người và trang bị. Soukup chẳng biết là đi đâu cho tới khi đến Huế và được thả xuống bãi đáp gần viện đại học.
Chung quanh, súng địch nổ lóc bóc. Một tràng đạn trúng sàn máy bay. Xăng và nước chảy quanh chân. Soukup căng thẳng, lo lắng. Anh ta nói như trẻ con: “Đừng rớt.” Chiếc trực thăng đổ nghiêng một bên trên bãi đáp. Cửa sau máy bay bị kẹt, mở có một nửa. TQLC vội vàng nhảy ra khỏi máy bay ở độ cao 10 fít, tìm chỗ núp. Từ bên kia sông, Quân CSBV bắn như mưa vào bãi đáp trực thăng.
Có mấy TQLC khác xuống bãi đáp rồi, đang la hét và chỉ chỏ. Soukup thấy một tia chớp lóe lên ở cửa sổ một ngôi nhà bên kia sông. Anh ta bắn một tràng đạn M-16.
Súng tiếp tục nổ. Một anh lính trong tiểu đội chạy tách ra, la hét và bắn loạn xạ chẳng nhắm vào đâu hết. TQLC cúi mình núp sau những cái cây và các hồ nước trên sân cỏ, mắng anh ta. Anh ta không nghe. Cuối cùng mấy TQLC nắm lấy anh và đè xuống đất. Họ quẳng anh ta lên chiếc máy bay sắp bay đi. Soukup không bao giờ thấy anh ta lần thứ hai nữa.
Quân CSBV bắn thưa dần.
Soukup và tiểu đội chạy lại chỗ chiếc trực thăng đang chờ, hạ cánh cửa xuống, phụ nhau đưa khẩu súng đại bác ra khỏi máy bay. Từ bãi đáp họ lom khom tiến về phía MACV. Vì họ phải dùng cả hai tay để ôm đại bác nên súng cá nhân lắc lư bên hông. Mọi người ai cũng sợ bị bắn sẻ. Họ vào bên trong và Soukup đi tìm chỉ huy. Anh ta không biết đường và cũng không biết tiểu đội anh phải làm gì. Anh ta không biết trí súng ở đâu và cũng không rõ đạn nằm ở đâu, cũng không biết tiểu đoàn cũng như đại đội ở đâu. Anh ta bèn quyết định nhập với trung đội đầu tiên gặp được và cứ theo thói quen mà chiến đấu.
TQLC nói họ thuộc Đại đội Fox 2/5. Anh ta không chắc. Mọi sự đều lộn xộn ghê gớm và thật căng thẳng trước khi trận đánh kết thúc. Tiểu đội 10 người của Soukup có 2 người bị giết và 7 người bị thương. Nhưng lại được tăng cường, chỉ có vài đơn vị tăng cường quá trễ.
&
Trung úy James V. DiBernado 33 tuổi, xuất thân là một nhà báo TQLC, quê ở Fulton, Nữu Ước, hiện phục vụ tại Bộ phận 5, đài phát thanh và truyền hình Quân Đội Hoa Kỳ đặt tại phía nam thành phố Huế. Ông ta có cách sống hòa hợp giữa TQLC, Việt Nam và nhân viên dân sự trong một căn nhà cách MACV mấy lô.
Trước hôm đánh nhau, thiếu tá Breth và Swenson đến thăm. DiBernardo cười vì cuộc sống rất tiện nghi hai ông nầy cũng như xếp của ông ta vậy. Hai ông thiếu tá đề nghị DiBernardo dọn vào ở trong MACV nhưng anh nầy từ chối. Chỗ anh ta ở tương đối an toàn. Vậy rồi Cộng Sản tấn công.
DiBernardo và người của anh ta bị cô lập; chờ hai ngày, tiếp tế bị cắt đứt, lắng nghe chừng tiếng súng trên đường phố. Tới ngày thứ ba, anh ta ra phòng trước khi một ngươi lính canh chạy vào la to là đại đội TQLC đã tới. DiBernardo ra cửa sổ nhìn, thấy lính CSBV lom khom chạy theo bờ tường bên ngoài, sẵn sàng tấn công vào nhà. Anh ta chạy vào phòng khách, mọi người vào vị trí. Anh ta chụp lấy cây súng carbine và ra phục nơi cửa sổ. Người lính CSBV đi đầu bèn rút lui và chuẩn bị ném lại một bọc chất nổ. DiBernarso bắn một tràng đạn, người lính CSBV chết vì bọc chất nổ nổ tung.
Thế là hai bên đánh nhau. Phía Mỹ nổ súng. Bắc Việt Nam cũng nổ súng, suốt mấy tiếng đồng hồ. DiBernardo bị thương mấy chỗ nơi cánh tay. Ai cũng có bị thương hết. Sau cùng, lính CSBV trèo lên cao, bắn vào mái nhà. Lửa cháy, khói đầy đặc nhà. Người trong nhà bèn chạy ra, vừa chạy vừa bắn. Quân địch bắn vào họ xối xả, người cố vấn kỹ thuật dân sự té xuống chết ngay trên mặt đường.
DiBernardo và những người sống sót chạy tới cuối khu phố.
Mấy chục thước trước mặt họ là một đám ruộng trống. Làm sao vượt qua được? Lính CSBV đuổi theo sau lưng. Phía nào cũng có súng nổ. Một tràng đạn trúng vào tay DiBernardo. Chẳng biết chạy vào chỗ nào. Nhìn quanh, họ thấy có khoảng 50 lính CSBV núp ở những ngôi nhà chung quanh. Họ chỉ còn lại có 4 người, ai cũng bị thương vì đánh nhau ban nãy. Họ đưa tay đầu hàng.
Sau trận đánh, trung sĩ Steve Berntson và Dale Dye, hai phóng viên báo chí của Sư đoàn 1 TQLC tới ngay căn nhà nầy. Họ biết những người trong ban tham mưu làm việc và ở đây. Họ tìm thấy trung sĩ Tom Young nằm chết ngoài bờ hào. Tay bị trói ra sau lưng, phần sau của sọ bị bắn nát. Berntson va Dye gở cánh cửa đặt người bạn của họ lên đó khiêng về MACV. Họ khóc vì họ thấy Tom không gặp may. Họ cũng nghĩ rằng trung úy DiBernado đã chết rồi, không biết rằng DiBernardo đang ở trên đường dẫn ra Hà Nội.
Mặt trận Huế cũng là nơi bất an cho một người đàn bà Pháp. Đó là bà Cathy Leroy. Sinh trưởng ở Pháp, bà rời trường âm nhạc đi làm phóng viên chiến trường. Nhỏ con, nhanh nhẹn, tóc vàng, bà ta đến các khu đánh nhau ở Việt Nam trong bộ quần jean, giày ống, tóc đánh con rít, máy ảnh treo tòn ten nơi cổ. Để làm nhiệm vụ của mình, bà đi với lính nhảy dù Mỹ, chụp hình các trận đánh dữ dội ở vùng Phi Quân sự hồi mùa hè 1967, bị thương sau đó hai tuần lễ khi một đơn vị TQLC bị pháo kích. Thời kỳ đi theo TQLC Hoa Kỳ, bà viết bài đăng trên tạp chí “Life” (2) TQLC Mỹ luôn nhắc tôi nhớ những điều chúng ta gọi là lính Lê Dương… to mồm với những trái tim vàng.
Khi Cathy nghe tin TQLC Mỹ đang đánh nhau ở Huế, nơi bà muốn tới, liền đi cùng Francois Mazure, một người bạn phóng viên khác. Nghe TQLC Mỹ đang canh giữ đường, họ tìm một chuyến xe nhà binh đi Huế nhưng không kiếm được, lại gặp một người Việt biết nói tiếng Pháp. Tốn ít đồng bạc, họ thuê một chiếc xe đạp. Đó là chiếc xe đạp đôi hai người ngồi. Họ đạp xe đi Huế trên con đường vắng hoe.
Dân chúng đóng kín cửa, núp trong nhà. Việc nầy làm cho hai nhà báo bồn chồn. Khi nào thấy có người ló mặt ra nhìn, Mazure la to:
– “Bonjour!” như để nói cho biết họ không phải là người Mỹ.
Khi họ tới phía nam thành phố Huế, tiếng súng nổ lốp bốp chung quanh khiến họ nhận ra rằng họ đã đi vào vùng Cộng Sản kiểm soát. Họ lo lắng đứng chung với những người dân đang tụ họp thành cái chợ trời, lắng tai nghe tiếng súng và xem máy bay Quân Đội Nam Việt Nam đánh bom trong Thành Nội. Chẳng ai nói gì với họ, nhưng khi có ai tới gặp họ, họ nói nhanh bằng tiếng Việt rằng họ là các phóng viên báo chí người Pháp từ Paris tới. Những người Việt Nam nầy có vẻ thù địch nên làm cho Cathy và Francois sợ. Họ thấy toát mồ hôi suốt hai giờ đồng hồ. Cuối cùng có một người đàn ông đến gặp họ, chỉ cho thấy một nhà thờ công giáo và đề nghị họ nên vào ở chung với nhiều người tỵ nạn đang núp trong nhà thờ. (Dòng Chúa Cứu Thế – ngd)
Có mấy ngàn người đang trốn trong nhà thờ. Đám người nầy chẳng giúp đỡ và cũng không nhường đường cho họ đi. Đám trẻ con thì chen lấn hoặc nhìn họ chăm chú.
May mắn có một linh mục già thấy họ nên đến chào, nói chuyện bằng một thứ tiếng Pháp trôi chảy, chỉ cho họ nhìn chung quanh và nếu như muốn đi một vòng quan sát thì sẽ dẫn đi. Ông linh mục nói với họ rằng hai chục năm trước, vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam cũng được đưa vào trốn trong nhà thờ nầy, khi phong trào Việt Minh nổi lên. Dân chúng trong nhà thờ – phần đông là đàn bà, trẻ em và người già – nằm la liệt khắp nơi, giữa những hàng ghế dài trong nhà thờ, chung quanh bàn thờ. Một người đàn bà mới đẻ nằm nghỉ sát phòng xưng tội.
Không khí hết sức ồn ào. Trẻ con thì khóc, người lớn nói chuyện, các tu sĩ cầu nguyện lớn tiếng. Bên ngoài súng nổ suốt đêm.
Hai nhà báo nằm cố ngủ trong một cái phòng nhỏ của một linh mục. Tới sáng, họ được báo cho biết là người Việt ở đây không bằng lòng việc họ có mặt vì họ sợ mặt mũi trông giống như người Caucase, có thể khiến cho Cộng Sản tấn công vào nhà thờ. Một linh mục nói với họ nên tìm đến khu vực Mỹ và một em bé có thể dẫn đường tới MACV. Cathy và Mazure bỏ lại hết các thứ trang bị nhà binh trong nhà thờ, cả giày ống, thẻ nhận dạng, và làm một lá cờ trắng bằng vạt áo của một linh mục. Một linh mục viết một cái thư, giải thích họ là người trung lập, dân sự.
Họ đi theo em bé dẫn đường ra tới một con đường đầy bụi bặm, chẳng bao lâu thì tới một cái cổng một biệt thự rất lớn (Cung An Định – ngd), bên trong là một vườn hoa xanh tươi. Họ dừng lại, nhận ra có mấy người mặc áo quần màu xanh lá cây, trong dáng bộ mệt mỏi, mang súng AK-47 và nhìn chăm chú vào họ. Em bé dẫn đường phất thật mạnh lá cờ trắng. Có ba người lính CSBV mặc đồng phục kaki đi về phía họ. Họ có vẻ thù địch nhưng không có gì giận dữ nên Cathy thấy đỡ lo một chút. Mazure đưa cho họ bức thư của linh mục nhưng họ không có vẻ gì muốn nhận thư ấy. Khi Mazure, do tự nhiên muốn che cái máy chụp hình thì những người lính CSSBV liền nắm lấy mấy cái máy ấy, rồi ra dấu gọi thêm ba người khác trong vườn hoa. Họ trói tay hai nhà báo lại rất kỷ bằng một sợi giây dù. Có khoảng 15 lính CSBV đang ngồi bên cạnh những cái hố trong vườn cây. Hai nhà báo bị giữ ở đó khoảng 45 phút. Mazure nói tiếng Pháp liên miên, cố chứng tỏ anh ta không có gì sợ hãi cả. Mấy người lính CSBV thì chỉ trố mắt ra nhìn.
Cuối cùng, một người lính khác tới và dẫn họ ra phía sau biệt thự. Một người da trắng, có lẽ là người Pháp, ngồi sau một cái bàn.
Mazure hỏi: Ông là người Pháp phải không?
Ông ta là người Pháp, rất vui khi gặp các phóng viên. Ông ta đi vòng sau lưng và bắt tay họ trong khi tay họ còn bị trói. Ông ta và gia đình cũng là tù nhân ngay chính trong nhà họ nhưng không bị đối xử tàn tệ. Người Pháp giới thiệu một sĩ quan CSBV trẻ đến phỏng vấn. Người nầy khoảng 25 tuổi, có thể một thời là sinh viên du học ở Pháp, anh nầy nói với họ là họ có thể đi. Họ được cởi trói, dụng cụ được trả lại. Người sĩ quan cho biết Cộng Sản đã chiếm thành phố, và họ đang giải phóng toàn thể nước Việt Nam.
Cathy và Francois lấy lại được bình tĩnh, xin phép cho chụp hình. Người sĩ quan tỏ vẻ thích, đưa họ lui đằng sau góc vườn. Các người lính khác cũng vui sướng đến chụp hình chung. Họ còn trẻ và tự tín.
Tuy nhiên, đó không phải là bầu không khí thanh bình. Cathy và Mazure chú ý thấy họ chuẩn bị để có thể bắn qua mấy lỗ hỗng trên tường nếu TQLC bất thần đến tấn công. Họ như đang ở giữa cuộc chạm súng, trang bị vũ khí đầy đủ: AK-47, SKS, hỏa tiễn B-40, vũ khí chiếm được do Mỹ chế tạo, máy truyền tin và nhiều đạn dược.
Sau khi chụp mấy tấm hình, Mazure trở lại biệt thự và tuyên bố một cách vô tình rằng sẽ viết lại câu chuyện nầy. Chẳng ai phản đối.
Người Pháp mời mọi người hút xì-gà, bắt tay và chúc mọi người may mắn. Cathy và Francois cùng với em bé dẫn đường đi ra cổng. Họ quyết định trở lại nhà thờ, được an toàn hơn rồi sau đó tìm đường khác để tới MAC.V.
Dân chúng ở nhà thờ biết ngay họ có tiếp xúc với CSBV.
Thằng bé dẫn đường tỏ ra tự hào về việc nó đã làm. Hai nhà báo vui cười, lại cố làm cho có vẻ vui lên và thêm hứng khởi. Những người dân chạy giặc cũng cười, chia vui với họ. Họ biếu hai nhà báo thức ăn. Vị linh mục tiễn họ ra cửa và chào từ biệt.
Chỉ có Cathy và Mazure đi trên đường. Họ cẩn thận đi ngang một khu không có một bóng người. Có lúc họ khom mình đi qua khu Quân đội VNCH để tránh xa chỗ đang có đánh nhau. Họ thoát ra được ngoài thì trời đã chiều.
&
Đại đội Fox 2/5 được sắp xếp lại sau khi rút lui về tới MAC.V.
Đại úy Downs được lệnh cho lính qua bên kia đường, ngang chỗ bãi đáp trực thăng để dò thám vị trí địch. Trung đội 3 di chuyển trước và khi vòng tới cuối đường thì thấy TQLC Đại Đội Alpha 1/1 và Golf 2/5 trên các cửa sổ. Họ dồn đống ở ngã tư. Hạ sĩ Carter chạy lom khom dọc theo bờ tường cùng với toán súng máy M-60. Phía trên, hai TQLC và trung sĩ Mahoney đứng gần cuối bức tường. TQLC là những người chiến đấu trong rừng rậm rất giỏi, nhưng đánh nhau trên đường phố với họ là điều mới mẻ. Họ không biết rằng nếu cứ đi thẳng mình là coi như mời thần chết tới. Họ không biết trước khi di chuyển là phải dọn đường bằng lựu đạn và M-16. Họ thiếu kinh nghiệm về loại tác chiến nầy. Do đó, người ta hiểu tại sao hai người lính TQLC và anh trung sĩ đi qua đường bên kia trông như đi tản bộ.
Trung sĩ Mahoney bất thần phóng vào chân tường và ra dấu cho hai người lính TQLC bắn yễm trợ cho anh ta. Ngay lúc đó, – Carter há họng ra mà nhìn – AK-47 nổ một tràng trên đầu anh trung sĩ. Anh nầy to con, rơi xuống bên cạnh Carter một cái bịch như một bao đá. Anh ta bị bắn nát mặt, chết tức khắc. Carter nắm tay anh ta kéo lui nhưng chẳng nhúc nhích được gì. Carter không nghĩ anh trung sĩ nặng đến như thế. Carter gọi to, kêu người đến giúp. Hai TQLC chạy tới. Một loạt súng bất thần từ căn nhà bên kia ngã tư nhắm tới. Đạn rớt chung quanh, dụng vào bức tường. Tất cả bọn họ trườn lui để tránh đạn. Carter ở đằng sau bức tường, thở khó nhọc, không ngờ mình còn sống.
TQLC bắn trả. Trong khi đó mấy TQLC chạy lên lôi xác Mahoney lui. Rồi họ cùng nhau về lại MACV.
Đêm đó, quân CSBV lại bắn vào các bức tường ở MACV, cố tấn công như những lần trước, nhưng bị TQLC phản công mãnh liệt nên chịu thất bại. Đêm đó, Đại đội Fox không đánh nhau. Họ được vào nghỉ trong một căn nhà lầu trong khi súng vẫn nổ ngoài cửa sổ. Ngày đầu tiên của họ ở Huế khá vất vả và một TQLC mới tới Việt Nam bỗng nổi cơn điên. Anh ta đứng lên, la to là anh ta không thể chịu đựng được, rồi khóc, rồi chạy lòng vòng quanh những người đang ngủ.
Mấy TQLC nắm lấy anh ta, đè xuống và tống anh ta ra khỏi Huế. Tiếng súng bên ngoai mỗi lúc mỗi thưa và dứt hẵn, đám lính ngủ được một giấc ngon.
Buổi sáng ngày thứ Sáu, 2 tháng Hai/1968, TQLC thấy cầu Trường Tiền trên sông Hương bị giựt sập. (TQLC gọi cầu Trường Tiền là cây cầu bạc vì nó sơn màu bạc). Có tiếng nổ lớn và khi khói, bụi tan hết, họ thấy hai vài giữa rơi xuống nước. Giao thông giữa bờ nam và Thành Nội bị cắt đứt. Chẳng có sẵn đơn vị công binh nào để sửa cầu. Có tin báo quân địch xuất hiện bên kia sông, gần đầu cầu. Họ là những người lớn con, lớn hơn khổ người Việt Nam trung bình và mặc một thứ quân phục khác với CSBV hay Việt Cọng. Đầu tiên, người ta cho đó là một trung đội quân Trung Cọng. Cũng có thể là không phải nhưng cũng chẳng ai phủ nhận.
Về phần Carter, anh ta thấy buổi sáng đến nhanh quá, TQLC ăn sáng xong rồi lên đường, đi ra phía ngoài, tuần tiểu trên đường phố chính. Carter đi giữa với Trung đội 3, sau lưng là đại úy Downs và anh lính mang máy truyền tin. Họ đi dọc theo con đường có hai hàng cây hai bên. Phía trước mấy tay bắn sẻ núp trên các cây cọ dừa bắn vào trung đội đi đầu. TQLC bắn lại như mưa, hạ mấy tên bắn sẻ. Những tên bắn sẻ nầy từ trên cây nhảy xuống, tính bỏ chạy thì bị bắn hạ ngay. Họ đi xa hơn nữa, ngang qua một chiếc xe Jeep đã bị phá hư, có mấy xác quân CSBV nằm trong bùn và giây kẽm gai.
Trung đội đi đầu tới ty Cảnh Sát nằm cách MACV mấy lô nhà. Các TQLC ai cũng ngạc nhiên khi mấy cảnh sát Nam Viêt Nam từ trên những phòng nhỏ trên nóc nhà ló mặt ra rồi chạy xuống . Họ vừa khóc vừa cầm lắc tay các TQLC rồi quì xuống cám ơn. Người thông dịch viên đến hỏi chuyện thì được biết họ trốn trên trần nhà mấy ngày trong khi Cộng Sản chiếm tầng dưới. Chỗ nầy bị đạn bắn lỗ chỗ. Carter nhìn vào trong, có vết máu dính vào tường. Mấy xác người nằm trong đống gạch vụn. Vài TQLC vào bên trong và kéo các xác người ấy ra ngoài sân. Carter không nhận rõ những xác nầy là ai: CSBV, VC hay QĐ/VNCH hay dân sự. Anh ta nghĩ chẳng có ai lưu tâm đến họ, dù là ai đi nữa thì họ cũng như nhau.
Lại có tiếng súng bắn sẻ. Những người bắn sẻ nầy núp chung quanh nhà thờ. TQLC tập trung phía sau ty Cảnh Sát, chỗ đó có con đường đất dẫn qua nhà thờ. Một chiếc xe tăng loại nhỏ trang bị súng chống chiến xa 106 ly lách cách chạy tới. Carter nhắm vào ống nhắm đặt trên xe. Súng nổ ầm, lá cây và bụi bay mù mịt. Cái tháp chuông nhà thờ cao mấy chục thước vỡ tan, cửa kính bay mất, mặt sau nhà thờ bị sập. Bụi bay lên, một đám đông từ trong nhà thờ chạy ra như ong.
Carter nhìn vào khẩu súng, rồi nhìn vào đám dân chúng đang kinh hoàng và bị thương. Chẳng ai muốn giết những người dân vô tội.
Cathy Leroy, đang đứng chụp hình, liền chạy về hướng các TQLC. Thấy người sĩ quan đầu tiên, một bà xơ (Soeur) ta nắm tay la to: “Có bốn ngàn người chạy giặc núp trong đó. Họ không phải là quân Cọng sản. Họ là dân.” TQLC đã ngưng bắn nhưng trong khi đó thì Cọng Sản vẫn cứ tiếp tục nổ súng. Những người chạy giặc mang bao bị, bồng bế trẻ em, có người cột một miếng vải trắng vào đầu gậy. Họ lết thết chạy về phía MACV.
Hạ sĩ Soukup đặt súng đại bác không giật 106 ly trên lề đường cách MACV hai lô nhà. Trước mặt là quân CSBV. Đám xạ thủ làm việc chiếu lệ, đẩy vào trong nòng một viên đạn dài, đóng cơ bẩm, bấm nút. Cứ bắn mỗi viên thì cát bụi lại bay lên. Viên đạn nổ phùm ở cuối đường. Soukup đứng ở ngưỡng cửa với một đám TQLC nhưng anh ta không biết họ, chờ lệnh để nhắm mục tiêu.
Có tiếng kêu rắc trên không. Có cái gì như mảnh đạn trên đầu Soukup, bay vào đụng bức tường bên trong nhà. Khi rảo bước vào trong, anh ta thấy vết đạn xuyên thủng bức tranh treo trên tường. Bức tranh có thể dùng làm vật kỷ niệm. Anh ta nhét bức tranh vào balô và nhăn răng cười. Nhưng rồi anh ta lặng người đi khi nhận ra rằng một anh lính CSBV nhắm một đường đạn đi thẳng từ đầu anh vào tới bức tranh. Rõ ràng kẻ bắn lén muốn giết anh ta. Đó không phải là một tràng đạn bắn hoảng mà một mục tiêu được nhắm đàng hoàng. Chỉ cần viên đạn đi thấp một chút nữa thì anh ta trở thành một đống thịt. Anh ta té xuống rồi lết vào trong.

Chú thích:
Alamo: Phòng tuyến của Tây Ban Nha tại San Antonio, Texas. Đây là di tích lịch sử anh hùng. Năm 1836, chưa tới 200 người Texas cố thủ ở đây chống lại Mexico để bảo vệ độc lập. Trong số những người nầy có Davy Crockett và Jim Bowie hy sinh trong cuộc bao vây lâu dài của 4 ngàn lính Mexico do tướng Santa Anna chỉ huy. Câu nói Nhớ Alamo là nhắc tới cuộc bao vây nầy.
(2) Life, xb ngày 16 tháng Hai/ 1968. Từ trang 22 đến 29.

(Còn tiếp)

ld6bdq
02-06-2015, 12:15
Keith William Nolan – Huế, Trận đánh Mậu Thân – Chương 3: Bắt đầu đánh chiếm từng nhà Ty Ngân Khố và Bưu Điện


http://i57.tinypic.com/2bdylc.jpg

Vài lời trình bày:
Trước khi vào Chương 3, tôi xin nói vài điều về trường hợp tôi.
Các Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã núp ở phía trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế để tấn công vào Ty Ngân Khố (người Huế thường gọi nôm na là Kho Bạc). Một người lính TQLC Mỹ, 19 tuổi, đã tử trận ở sân cỏ của ngôi trường nầy.
Đây là ngôi trường tôi đã dạy học ở đó 10 năm. Sau khi tình hình an ninh vãn hồi, tôi đi dạy lại, và được nghe ông cai trường thuật lại cái chết của người lính ấy, một cái chết rất đáng thương.
Khung cảnh của trường sau trận đáng năm Mậu Thân, làm cho một nửa học trò của tôi, trai cũng như gái, đeo khăn tang khi đi học trở lại. Đó là lý do khiến tôi “tự ý bỏ viên phấn đi cầm súng”.
Cũng vì câu chuyện đó, tôi đặt thêm cho Chương 3 nầy một đầu đề mới:

“Người Lính Mỹ Chết ở Sân Cỏ Trường Bán Công Huế”.

Kính cẩn.

Phần 1:

Của người dịch.
Tôi học đại học năm đầu tiên vào niên khóa 1958-59, sau ba năm làm precepteur tại nhà một người bà con. Rời khỏi nơi sống tạm nhưng khá yên ổn ấy, nỗi lo cơm áo hằng ngày đè nặng lên vai tôi. Tôi ở lang thang nhiều nơi, tìm những nơi nấu cơm tháng rẻ nhứt, chỗ ở rẻ nhứt vì tôi không tìm ra một công việc gì khác có thể giúp tôi, ngoại trừ một ít tiền nhuận bút nhờ cộng tác với tờ Rạng Đông của giáo sư LHM. Những người đã có uy tín trong giới báo chí còn chưa sống nỗi với nghề cầm bút, huống gì tôi, mới chỉ là một “Mầm non văn nghệ”. Tôi mong cho chóng tới hè để về quê, thị xã Quảng Trị, sống với mẹ, bớt lo chuyện cơm áo.
Nhưng niên học tới, gánh nặng đè trên vai tôi lại có phần gia tăng. Mẹ tôi đã già, muốn nghỉ việc. Các anh chị đều có gia đình riêng. Tôi có ba đứa em: Hai đứa em gái, một cô đã lấy chồng, tạm yên phần nó. Một đứa vừa thi hỏng trung học, nói: “Sang năm em ở nhà, tự lo học để thi lại”. Riêng “Hùng móm” mới vừa đậu trung học, hạng bình. Trước mặt anh chàng nầy, ngôi trường Quốc Học mở ra tươi sáng, đang chờ anh ta bước vào. Việc ăn ở học hành của Hùng là gánh nặng trên vai tôi, ngoài phần tôi tự lo cho bản thân mình.
Gần hết hè, tôi vào Huế sớm để kiếm một chỗ dạy học. Lúc bấy giờ, tôi có thể xin bổ dụng làm giáo sư dạy giờ tại một vài trường trung học xa Huế. Nhưng ngay tại Huế thì không có nhu cầu. Tôi không thể xa Huế, một là vì việc học của Hùng cần có tôi bên cạnh, hai là tôi cũng không muốn gián đoạn việc học của tôi vì phải đi xa. Tôi không quen ai, thấy khó xin một ít giờ dạy tại các trường tư ở Huế. Tôi có nhờ giáo sư LHM xin dạy ít giờ ở trường Bình Minh gần cầu Thanh Long do cha Lập làm hiệu trưởng, nhưng khi tôi gặp ông ấy lần thứ hai thì ông lắc đầu, không hy vọng gì. Trước tình trạng bế tắc như thế, tôi làm một cái đơn, một bức thư thì đúng hơn, kể lể hoàn cảnh của tôi và xin dạy ở trường Trung Học Đệ Cấp Bán Công Huế. Đây là trường Đệ Nhị Cấp, chỉ có mấy lớp Đệ Nhứt Cấp, làm sao tôi có thể có giờ dạy ở đây được. Nhìn thành phần giáo sư ở đây, tôi thêm thất vọng. Toàn là những bậc “Lão Tiền Bối”: Cụ Đinh Thành Chương, cụ Lâm Toại, cụ Lê Trung Chi, các ông Cao Xuân Lữ, Trần Điền… là những bậc thầy của tôi.
Chẳng qua, trước tình trạng không có lối thoát, tôi chỉ làm một công việc cầu âu.
Tôi không có nhà ở Huế, mượn tạm địa chỉ người chị dâu tôi để tiện liên lạc. Một tuần lễ sau, khi tôi ghé lại nhà chị tôi, Mỹ Châu, cô em gái của chị, hỏi tôi:
– “Trường Bán Công kêu anh đi dạy, anh biết chưa?”
Tôi nói chưa. Cô ta bảo:
– “Anh qua trường gấp đi kẻo người ta mời người khác mất”.
Tôi đạp xe thật nhanh đến trường. Đoạn đường dài ba cây số bị nuốt đi thật nhanh. Khi tôi dựa chiếc xe vào vách tường, bác cai trường chưa kịp khóa cổng thì tôi đã nhảy ba bước đứng ngoài hành lang. Tôi vuốt lại tóc, sửa lại cái áo trắng hơi ngã màu “cháo lòng”, vuốt lại cái quần kaki màu xanh biển, lấy khăn tay chùi bụi bám vào đôi giày “xăng-đan” cũ, bước vào cửa chính. Trước mặt tôi là ông Nguyễn Văn Hai, một người đang mang trên vai một lô chức vụ: “Giám Đốc Nha Đại Diện Giáo Dục”, “Dân Biểu Quốc Hội” và Hiệu Trưởng ngôi trường nầy. Tuy nhiên, tôi cũng không ngại lắm vì mấy năm trước, ông ấy là hiệu trưởng trường Quốc Học (khi ấy còn mang tên Khải Định) và tôi đã gặp ông vài lần vì công việc báo chí của trường. Tôi đứng thẳng, chào: “Thưa thầy!”
Bên cạnh bàn ông, ông Châu Trọng Ngô, giáo sư Toán của tôi mới chỉ cách đây hơn một năm. Hai người đang thảo luận công việc gì đó. Ông Hiệu Trưởng nhìn tôi hỏi:
– “Cậu là Hoàng Long Hải?”
Tôi trả lời: “Thưa thầy, vâng”.
Ông ta nói: “Cậu chờ ta một chút”. Tôi thấy hơi vui. Biểu chờ tức là còn có hy vọng. Với những học trò ông có cảm tình, ông thường tự xưng ông bằng “ta”.
Chưa đầy một phút, ông ta ngưng thảo luận với ông Châu Trọng Ngô, hỏi tôi:
– “Cậu học gì bên đại học?”
– “Thưa thầy, con học luật và văn khoa”. Tôi nói theo đúng lễ nghĩa hồi ấy: Gọi bằng thầy và xưng con, dù thầy còn trẻ.
Ông ta nói ngay:
– “Học làm chi cho nhiều. Bỏ văn khoa đi. Học luật thôi, sau dễ kiếm việc. Học luật dễ lắm, chỉ cần một tháng trước ngày thi, học riết vào mà thi, còn cả năm lo đi dạy”.
Ngưng một chút, ông ta nói tiếp:
– “Hiện có ba lớp Việt Văn Đệ Ngũ, hai lớp Việt Văn Đệ Tam, cậu dạy hết đi. Được không?”
Tôi mừng khấp khởi. Chừng đó giờ dạy, đủ cho tôi và hai đứa em sống và học hành thoải mái. Tôi trả lời:
“Thưa thầy, được”.
Cụ Võ Mão, giám thị, ngồi phía bàn của cụ, nhìn ngang với bàn hiệu trưởng, nói:
– “Chút nữa có hai giờ ở lớp Đệ Ngũ 2. Thầy coi có dạy ngay được không. Không thì tôi cho học trò về”. Ngưng một chút, ông cụ nói tiếp: “Học trò về giữa buổi là phiền lắm”.
Tôi vội trả lời:
– “Tôi dạy được!”
Ông Châu Trọng Ngô, giáo sư, còn đứng bên cạnh bàn ông Hiệu Trưởng, e ngại hỏi:
“Hải xem có dạy được không? Chưa chuẩn bị gì cả”.
Tôi là học trò của ông, biết tính ông rất cẩn thận, bài dạy ông soạn rất kỹ nên ông ta mới nói thế. Tôi trấn an:
– “Không can chi thầy. Vô lớp, giảng lại chương trình cho học trò, giới thiệu sơ qua những tác phẩm, tác giả sắp sửa học cũng đã cả tiếng đồng hồ rồi. Rồi còn chuẩn bị cho bài mới, có lẽ không dư giờ bao nhiêu”.
Ông ta nói, vẫn giọng ôn tồn muôn thuở:
-“Vậy thì Hải vào phía trong uống nước, chờ chuông reo thì theo cụ Mão vào lớp”.
Sau nầy tôi nhận ra rằng tôi được giao nhiều giờ dạy chẳng phải tôi tài cán gì cả. Ông Nguyễn Văn Hai, Hiệu Trưởng là người quê ngoại ở Quảng Trị, họ Hồ làng Cổ Thành. Ông rất thương những người cùng quê mẹ của ông. Có lần ông nói với tôi: “Học trò Quảng Trị thuộc vùng giới tuyến, đất đai nghèo nàn lại bị chia cắt. Tâm lý chúng phức tạp, nghịch ngợm, ưa phản kháng nhưng học chăm”.
Tôi vào phòng uống nước, vuốt tóc lại cho gọn, rồi lấy ly uống nước trà. Nhìn lên tấm gương soi, tôi thấy thích thú bởi một câu ai viết một cách nắn nót, cẩn thận dán lên phần trên cùng tấm gương soi: “Sĩ phu ba ngày không đọc sách, soi gương thấy mặt đáng ghét, nói chuyện lạt lẽo khó nghe”. – Hoàng Đình Công. Tôi cũng là người mê sách. Khi chuông reo đổi giờ, tôi bước ra cửa chính văn phòng. Cụ Mão đứng chờ tôi ở đó, tôi theo cụ lên lầu trên. Lớp Đệ Ngũ 2 ở ngay giữa lầu.
Khi tôi đưa mắt nhìn quanh lớp thì học sinh ngưng không thì thào nói chuyện nữa. Tôi không “khớp” nhưng hơi ngại. Học trò Đệ Ngũ, khoảng từ 13 đến 15, 16 tuổi, kém tuổi thầy không bao nhiêu. Xem ra thì có mấy anh lớn con ngồi phía sau cùng còn hàng đầu có hai chị em CTTN. Minh Nghĩa và Bửu Trí nhỏ tuổi và nhỏ con nhứt, ngồi lọt thỏm trong cái ghế Macadi (Học trò ở đây ngồi ghế Macadi như ở đại học) trông như con gấu vải đặt vào cái ghế nhỏ trong phim ciné.
Tôi nói sơ qua về bài giảng sắp tới và nói chuyện thơ về “Phong trào thi ca lãng mạn tiền chiến” cho học trò nghe. Ai nấy đều im lặng. (Xem “Một Chút Tình Thu”) Khi tôi bắt đầu nói tới “Cõi âm trong thơ”thì chuông reo hết giờ. Tôi phủi phấn bảng bằng cách xoa hai bàn tay vào nhau, chuẩn bị bước ra khỏi phòng. Không vở, không sách, không một mảnh giấy, suốt hai giờ nói chuyện thơ, tôi hơi mệt. Một học sinh ngồi ở đầu phòng nói vừa đủ nghe: “Đi dạy hai tay không, như một nghệ sĩ”. Câu nói đó ám ảnh tôi suốt mấy năm, nhứt là nhiều khi tôi vào lớp với hai tay không và khi xem bức hí họa trên báo Sổ Tay Sư Phạm do Đ.C. vẽ. Câu chú thích trong hình vẽ là: “Thầy giáo phải là một kịch sĩ”. Tôi nghĩ khác thế. Nếu là một thầy giáo dạy môn văn chương, thì thầy phải là một nghệ sĩ chứ không hẵn là kịch sĩ mà thôi. Kịch sĩ còn có đạo diễn. Nghệ sĩ là người tự mình làm đạo diễn cho mình, bằng tâm hồn của mình. Và cái tinh hoa của “người xưa” được diễn đạt lại cho “người đời sau” bằng tâm hồn nghệ sĩ ấy. Những người học với tôi giờ đầu tiên chiều hôm ấy, sau nầy, trong lĩnh vực văn học, báo chí có người rất thành công: Đó là nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, nhà báo Ngô Vương Toại, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, và một số người thành công trong lãnh vực khoa học kỹ thuật.
Tôi tưởng tôi chỉ dạy ở ngôi trường nầy vài năm sau khi tôi học xong và “Hùng Móm”, em tôi vào đại học, có thể tự lo liệu cho Hùng được. Thế mà cuộc đời đưa đẩy, tôi dạy ở đây mười năm. Trong thời gian ấy, năm nào tôi cũng chuẩn bị một chuyến rời trường đi xa, nghe như có tiếng gọi giang hồ ở cuối thiên nhai mà không đi được, cho đến Tết Mậu Thân.
Sau tết Mậu Thân, học trò lục tục đi học trở lại. Nhìn bọn chúng, tôi bỗng mất tinh thần. Lớp nào cũng vậy, hơn một nửa nam sinh mang băng tang đen trên áo còn nữ sinh thi bịt “khăn chế” ngang đầu. Đứa mất cha, đứa mất anh, đứa mất chị… Con gái tuổi 15, 17 quấn khăn tang ngang đầu là một hình ảnh đau đớn não nề. Câu thơ của Xuân Diệu “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang” chỉ có thể là cái đẹp trong văn chương, còn trong đời thực đó là một hình ảnh đau thương xoáy vào tận đáy lòng nhân ái.
Đi dạy lại chưa đầy một tuần, tôi bỏ lớp xuống văn phòng, nói với anh Ấu Đức Tài, hiệu trưởng, rằng tôi nghỉ dạy, chuẩn bị nhập ngũ. Ai cũng chưng hửng vì tôi đang được hoãn dịch. Mấy người bạn thân xúm lại hỏi tôi, tôi không nói thẳng ý tôi là “muốn chống Cộng bằng bóp cò súng chứ không bằng phấn bảng” (Câu tôi hay nói đùa với bạn bè) vì sợ mất lòng họ, cho họ là không “gan” như mình, nhưng ai cũng cho rằng tôi điên. Bỏ dạy trình diện nhập ngũ trước khi hết hạn kỳ hoãn dịch, mà còn có thể xin tái hoãn dịch được nữa, là một hành động điên rồ.
Tôi gọi điện thoại cho người em rể đang làm việc ở Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, hẹn có rảnh lái xe qua đưa tôi vào trình diện phòng Tuyển Mộ Nhập Ngủ Thừa – Thiên / Huế.
Trong khi chờ người em tới, tôi bước ra bãi cỏ trước sân văn phòng. Thợ hồ đang xây lại chỗ tường bị bắn thủng, phía ngó qua bên kia đường Hoàng Hoa Thám là Ty Ngân Khố.
Bác Nguyễn Tốn, cũng quê ở Quảng Trị, cai trường, đang đứng đó, kể cho tôi nghe:
– “Một thằng lính Mỹ rất trẻ chết ngay chỗ ni (nầy)”.
Thấy tôi đưa mắt hỏi, bác nói tiếp:
-“Từ chỗ ni, nó phóng qua cái lỗ ni, qua bên tê (kia) đường. Nó bị đạn bắn vô đầu. Một thằng khác cỏng nó về đây, rồi nó nằm chết ngay chỗ ni, trên cỏ”.
– “Sao bác biết rõ vậy?” Tôi hỏi.
Bác cai trường nói:
– “Mấy bữa đó, tui với vợ con tui núp phía sau “ga-ra”. “Ga-ra” ni mái đúc, không sợ pháo kích. Một thằng lính Mỹ còn trẻ lắm, khoảng 18, 19 tuổi, buổi sáng hôm nớ (ấy) nó ngồi nghỉ ở con đường hẽm giữa “ga-ra” với lớp Đệ Nhị. Nó ngồi dựa lưng vô tường, tay cầm tấm hình, nó gọi chi đó, rồi khóc. Tôi hỏi thằng con trai tui. Thằng con tui nói: “Nó kêu mạ ơi! “Hi! Mom”. Tiếng Mỹ là “mạ ơi” đó. Có lẽ người trong hình là mạ nó”. Một lúc sau, thấy mấy đứa dỏ (nhỏ) con tui lấp ló, nó kêu lại cho mấy miếng “sô-cô-la”. Rồi lấy mấy hộp thịt hộp, mứt, cho mấy đứa dỏ. Thấy mấy đứa dỏ còn thèm, nó nói hết rồi, còn hẹn ngày mai đem cho nữa.
“Nhưng khoảng xế trưa thì có lệnh tấn công Việt Cộng núp bên Ty Ngân Khố. Nghe lệnh, thằng lính leng teng chạy ra, mình mang balô nặng trịch. Nó theo mấy thằng tê, chui qua lỗ hàng rào, phóng qua bên tê, rồi bị đạn vô đầu. Thiệt tội nghiệp cho thằng lính Mỹ, chết còn quá trẻ!
Người xưa nói: “Nhân chi tương tử, kỳ ngôn giả thiện”. Thằng lính Mỹ không biết văn chương, không nói một cách bóng bẩy như Lưu Bị. Nó vừa khóc gọi mẹ vừa chiến đấu. Nó gọi bằng một lời chân thật nhứt: “Mom”. Đó là tiếng gọi Mẹ. Mẹ là nơi người ta sinh ra mà cũng là nơi người ta trở về. Mẹ là chân nguyên. Ra đi từ nơi mẹ, là ra đi từ chân nguyên, và chết là trở về với chân nguyên, với mẹ. Số phận con người! Đáng thương thay!
Thằng lính Mỹ bên kia Thái Bình Dương qua chết nơi nầy. Chết cho ai? Cho quyền lợi tư bản Mỹ, cho quyền lợi của nhân dân Mỹ, hay cho quyền lợi của nhân dân Miền Nam Việt Nam. Nhìn vào lăng kính nào chúng ta cũng thấy có lý và không có lý cả, nhưng nếu nhìn vào mặt nhân bản thì những cái chết của người lính Mỹ trên đất nước nầy, hay của chính người lính miền Nam chết ngay trên quê hương của họ, há không phải là để bảo vệ tự do, chống lại một chế độ độc tài tàn ác hay sao? Và không ít những người học trò của tôi, nghe theo lời thầy dạy trong câu thơ “Chinh Phụ Ngâm”: “Xếp bút nghiên theo việc đao cung” đã bỏ mình trên chiến trường đâu đó.
Trong ý nghĩa bảo vệ tự do, chống lại một chế độ độc tài tàn bạo thì những cái chết đó là có lý tưởng, là những hy sinh cao cả thật sự, vinh quang thật sự cho cả nhân loại chứ không phải chỉ riêng cho ai, cho một dân tộc nào. Đó cũng là ý nghĩa của sự gần gũi giữa những người khác màu da, khác chủng tộc đứng chung một chiến tuyến vậy.
Trong suy nghĩ đó, tôi bước lên ngồi trên xe để người em rể đưa đi trình diện nhập ngũ, nghe như có lời kêu gọi của một chuyến phiêu bạt phương xa, mà lòng không còn một chút đắn đo, suy nghĩ.
người dịch


Phần 2: Dịch từ sách của Keith William

Các đồng sự nói rằng trung tá Ernest C. Cheatham, Jr. là sĩ quan khéo léo nhứt mà họ đã từng phục vụ. Đó là điều họ muốn nói tới ông ta.
Ông ta người cao lớn, 6 fít, một cựu cầu thủ bóng bầu dục chuyên nghiệp, hăng hái, tài ba, can đảm của một cấp chỉ huy quân đội. Ông là người có trách nhiệm cao theo phương cách của tướng Patton (thường gắn cặp kính che mắt trên mũ sắt), ông ta quan tâm sâu sắc đến các TQLC trẻ dưới quyền chỉ huy của ông. Trong tiểu đoàn người ta gọi ông là Big Ernie.
Ông ta bị vỡ mộng. Ba trong bốn đại đội của ông: Fox, Golf và Hotel đang chiến đấu ở Huế. Trong khi ông ta thì bị kẹt lại ở Phú Bài mà không biết việc gì đang xảy ra cho binh sĩ của ông. Ông ta quấy rầy Trung Đoàn Trưởng, đại tá Robert D. Bohn, và cuối cùng, ngày 3 tháng Hai, ông ta được lệnh nắm lại tiểu đoàn. Họ tổ chức một đoàn xe. Cheatham và trung sĩ tham mưu trên một chiếc xe Jeep, ban tham mưu tiểu đoàn thì chen nhau trên những chiếc xe Jeep có gắn máy truyền tin. Lính bổ sung, ban Chỉ Huy, Đại Đội Công Vụ, Văn Phòng thì lên xe GMC. Một chiếc có trí súng đại liên 50 đi đầu để giữ an ninh. Cũng trên GMC trong chuyến đi có đại tá Stanley Smith Hughes, vừa mới được chỉ định làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn TQLC số 1, chịu trách nhiệm chỉ huy và kiểm soát Lực Lượng Đặc Nhiệm thành phố Huế.
Đoàn xe tiến ra QL. 1, lên hướng bắc vào lúc sáng sớm. Lại cũng là câu chuyện cũ: Bầu trời xám xịt, không có dấu hiệu gì về phía địch, không có bóng người. Họ vượt qua sông Phú Cam (An cựu), hướng về phía MACV và bị quân CSBV tấn công. Từ trong các tòa nhà, AK-47 bắn ra như mưa. TQLC 1/ 1 ở một bên, bắn trả. Đoàn xe tiếp tục di chuyển. Một chiếc xe Ontos trên đường bị giật mạnh vì trúng đạn B-40. Phía tay mặt súng bắn dữ hơn, phía sau là gần nhà thờ công giáo.
Khoảng 1 giờ chiều, họ vào tới MACV.
Đại tá Hughes gọi ngay Gravel và tức thời lập bộ chỉ huy trong câu lạc bộ sĩ quan trong MACV. Hughes là người được chọn đúng để chỉ huy cuộc hành quân. Quê ở tiểu bang Nữu Ước, người chắc nịch, da hơi đen – có mang huyết thống da đỏ – ít nói, thân mật. Năm 1944, khi còn là một trung đội trưởng trẻ, ông đã được thưởng huy chương Hải Quân do chỉ huy thêm hai trung đội sau khi các sĩ quan bị tử thương trong một cuộc tấn công dữ dội vượt qua một con suối ở mũi Gloucester. Khi làm trung đoàn trưởng, ông được mọi người kính trọng.
Tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân, Hughes và ban tham mưu trung đoàn đặt bản đồ xuống và cố xem xét coi thử ở Huế đang xảy ra chuyện gì và phải ứng phó như thế nào. Tướng LaHue và những người ở LLĐN X-Ray không có tin tình báo chắc chắn. Thực ra, chẳng ai nắm chắc tình hình địch. Có một điều Hughes hy vọng được là những gì ông hiện có trong tay để ứng phó ngay tại mặt trận. Buổi chiều ngày 3 tháng Hai hôm đó, trong tay ông ta có: Đại đội Fox, Đại đội Golf và Đại đội Hotel 2/ 5 do trung tá Cheatham chỉ huy.
Hầu hết Đại đội A và Trung Đội Công vụ 1/ 1do trung tá Gravel chỉ huy.
Toán súng cối và đại bác không giật lấy từ Đại Đội Công Vụ của tiểu đoàn; xe vận chuyển súng chống chiến xa của chi đội; Chi Đoàn Chiến Xa số 1; bốn chiến xa còn lại của Chi Đoàn 3 Chiến Xa thuộc Sư Đoàn 3/ TQLC, xe trang bị đại liên 50 của Pháo Đội D, Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 44/ Pháo Binh và Trung Đội Pháo Dã Chiến của VNCH.
Nhân viên Toán Cố Vấn số 3 tại MACV, thủy thủ tàu Hải Quân ngoài bến tàu sông Hương, một số nhân viên mới được gởi tới tăng cường, một số TQLC thuộc Tiểu Đoàn Quân Vận số 1 giữ nhiệm vụ chuyển vận giữa Huế và Phú Bài. Một số ít đơn vị thuộc QĐ/ VNCH.
Lệnh của đại tá Hughes là quét sạch Cộng Quân tại khu nam thành phố Huế, nửa mặt trận bên kia sông, trong Thành Nội, do tướng Trưởng và QĐ/ VNCH chịu trách nhiệm, không có sự hỗ trợ của bộ binh Hoa Kỳ. Với ý đồ như thế, đại tá Hughes vội vàng vạch kế hoạch. Cheatham gánh một trách nhiệm nặng nề, đẩy lùi quân địch từ MACV dọc theo sông Hương tới ngã ba sông An Cựu, chỗ khúc sông nầy nối với sông Hương (khu trường Pellerin – ngd). Trục hành quân chính cho Đại đội 2/5 là dọc theo đường Lê Lợi, đường nầy chạy song song với sông Hương, (chỗ khúc đường nầy hơi cong là bộ Chỉ huy của quân Cộng Sản và hầu hết quân lính họ tập trung ở đây). Đơn vị 1/ 1 của Gravel hành quân cùng Đại đội 2/ 5 dọc theo sông An Cựu, giữ an ninh QL. 1 giao thông với MACV. Trong hai nhiệm vụ nầy, nhiệm vụ Gravel dễ hơn vì đơn vị của ông thiếu quân số trầm trọng. Vã lại, so ra thì Gravel tính tình cẩn thận hơn. Sự thật, trước khi được tăng cường, – trước khi Bộ Chỉ Huy biết chắc những gì xảy ra ở Huế, LLĐN đã thúc đẩy ông ta tiến nhanh và hoàn thành nhiệm vụ. Họ nghĩ ông ta đã làm hết sức mình.
Đại tá Hughes ra lệnh Quân đội VNCH quét sạch địch ở hậu tuyến TQLC, tiêu diệt những tay bắn sẻ còn trốn lại, chịu trách nhiệm giúp dân tỵ nạn, thường dân bị thương tích xảy ra khi phải cận chiến từng nhà một.
Cheatham và Gravel đứng trong phòng hành quân khi đại tá Hughes ra lệnh. Cheatham hơi chần chừ một chút, chờ thêm tin tức.
Chờ gì nữa. Chẳng có thêm tin tình báo hay gì khác. Đại tá Hughes biết ý, nói: “Nếu muốn có gì thêm thì anh chẳng được gì hết”. Giống như mọi người đến Huế, Hughes chỉ có những tin tức đại khái. Ông ta nói thêm: “Anh phải tự lo liệu lấy, bằng cách nào đó thì cách. Còn như thượng cấp có gì thì tôi sẽ lo cho anh”.
Nghe vậy, Cheatham đội nón sắt lên đầu, tay với cây súng M-16 rồi đi ra mặt trận. Mấy phút sau, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 5 TQLC đụng giặc.
Trung tá Cheatham đặt Ban Chỉ Huy bên kia đường, ngang với MACV, trong một ngôi nhà của viện Đại Học Huế. Các Đại đội Fox, Golf và Hotel đang đóng chung quanh ngôi nhà nầy. Khu vực của họ chỉ có chừng đó. Trước mặt là quân Cộng Sản BV, thỉnh thoảng nổ súng. Bên phải là đường Lê Lợi và sông Hương. Bên trái là đại đội 1/ 1. Phía trước, bên phải, địch đang nắm hết mấy con đường, có khoảng 11 khu nhà và chín cái nằm sâu bên trong. Cứ mỗi một đường đi, mỗi góc đường, cửa sổ, ngã tư là có thần chết ngự trị ở đó. Phải đánh chiếm từng khu một, từng nhà một, từng viên gạch một. Họ có thể xoáy được bản đồ ở cây xăng Shell, Ty Cảnh Sát và nhân viên quân sự tại MACV. Cheatham, ba đại đội trưởng, chín trung đội trưởng chia nhau ba cái bản đồ. Mục tiêu đầu tiên nằm ngay trước mặt: Ty Ngân Khố, sát ngay đó là Bưu Điện. Quân CSBV đào hầm núp ngay bên trong. Họ không có ý định phân tán hay rút lui như họ thường rút lui trong vùng quê hay trong rừng rậm.
Hạ sĩ Dan Arkie Allbritton, 20 tuổi, 4 tháng làm tiểu đội trưởng, thuộc Trung đội 3, Đại đội Fox. Anh ta lùn, mang kiếng, quê ở Arkansas, nói giọng mũi, có Chiến Thương Bội Tinh với dấu tích ở mấy cái sẹo sau lưng vì bị mìn ba tháng trước tại An Hòa. Lần đầu tiên vào Huế, Allbritton nghe một anh trung sĩ nói họ đã quét được mấy tay bắn sẻ.
Chỉ trong mấy ngày, câu trả lời của anh là: Chuyện nhảm nhí.
Ngay trong những ngày đầu, Trung đội 3 kiểm soát được khu vực quanh MACV và khu Đại Học. Ở đây cũng có một chiến xa của QĐ/ VNCH, đậu sát tường. Allbritton quan sát, đùa giỡn với mấy người lính Việt Nam phía sau chiếc xe tăng, bắn vài tràng đạn trên pháo tháp trước khi các tên bắn sẻ làm được gì, rồi toác miệng cười với TQLC.
Cuối cùng thì có lệnh. Tuy nhiên, hạ sĩ Allbritton, hạ sĩ Carter, và những người còn lại trong Trung đội 3 còn gặp may. Trung đội 2 được chọn đi đầu. Họ quan sát Trung đội 2 TQLC đi quanh các bức tường rồi biến mất ở đầu đường, phía bên trái, tiến về ty Ngân Khố và Bưu Điện. Chỉ trong mấy phút, cả con đường súng nổ dậy lên.
&
Trung úy Donald A. Hausrath, Jr. trung đội trưởng Trung đội 3, được lệnh tiến lên, giúp Trung đội 2 rút lui. Hai chiếc xe tăng của TQLC di chuyển thật chậm phía trước, trên con đường rộng có hai hàng cây bai bên. Từ trên mái những căn nhà phía trước quân CSBV bắn xuống. Đạn rớt và kêu lụp bụp chung quanh. TQLC lom khom núp sau hai chiếc xe tăng, đi từng bước một, quan sát rất cẩn thận, đầu cúi xuống tránh đạn. Carter thấy một anh TQLC da đen nằm bên lề đường. Chung quanh súng vẫn nổ. Carter nghĩ, Chúa ơi, Trung đội 2 chắc bị quét sạch cả rồi.
Xe tăng bắn trả bằng đại liên 50 và đại bác 90ly. Vài TQLC núp sau xe tăng cũng bắn phụ vào. Thiếu úy Hausrath cùng với những người khác cố kéo những người bị thương hay chết vào phía sau xe tăng. Trong trung đội, những người còn sống núp vào trong các ngưỡng cửa hay các con hẽm, bắt đầu tháo lui. Có ai đó quăng một anh TQLC còn trẻ, đã bất tĩnh lên lưng chiếc xe tăng, ngay trên đầu Carter. Bất thần, một quả B-40 bắn vào pháo tháp, trượt qua trên mình anh lính bị thương, mảnh đạn văng ra. Anh lính TQLC bị rớt xuống khỏi chiếc xe tăng, tỉnh dậy và rên. Một chân anh ta bay mất.
Họ bỏ hết cả người bị thương và chết lên xe tăng rồi vừa lùi vừa bắn dữ dội. Súng cối từ ban chỉ huy đại đội bắn tới yểm trợ. Đó chỉ mới là một sự thử thách ngắn ngủi và đẫm máu. Đại úy đại đội trưởng bị thương nhẹ vì mảnh đạn B-40.
Những người bị thương được chuyển về trạm xá. TQLC lui về ẩn núp trong những ngôi nhà và các bờ tường, ngay nơi họ vừa xuất phát. Carter đang đứng nơi đó thì trung úy Hausrath nắm lấy anh ta:
- “Carter, có phải anh là người bắn hỏa tiễn. Anh được xác nhận năng lực rồi phải không?”
- “Vâng, đúng, thiếu úy.” Carter trả lời. “Tôi là chuyên viên về hỏa tiển. Đó là khả năng chuyên môn quân sự của tôi.” (MOS)
- “Được rồi, anh là người bắn hỏa tiển của chúng tôi.”
Một cây súng bắn hỏa tiễn 3.5 inch, na ná cây bazooka cũ, được mang tới. Carter được lệnh mang cây súng xuống đường, nơi họ vừa mới bị chận đánh tơi bời, đục một lỗ ngay trong sân, phía bên phải. Kế hoạch là đưa Đại đội Fox vào trong một cái sân trước, rồi đánh chiếm từng nhà cho tới khi vào ty Ngân Khố, như thế là mở được an ninh cho các con đường trong khu vực nầy. Một chiếc xe tăng bắt đầu tiến tới, Carter đi lom khom bên cạnh, giữa bức tường và chiến xa. Anh ta vác khẩu súng trên vai, súng nạp sẵn một viên đạn. Carter nhắm mục tiêu, bắn, cái cổng sắt ngang bức tường bay mất.
Phần còn lại của đại đội tiến tới trước, núp bên những cái lỗ trên tường. Họ bắt đầu chiếm từng nhà. Carter thì mở cửa nhà bằng đại bác, TQLC thì quăng lựu đạn, rồi tiến vào nhà kiểm soát. Địch không bắn trả. Sự việc kéo dài khoảng 15 phút.
Carter khom lưng xuống, lại nạp đạn khi anh thấy một vài TQLC của đại đội 2 tiến vào bờ tường một cái sân nhà khác (mỗi sân nhà cách nhau bằng một bức tường). Họ đẩy một anh lính qua cái sân nhà bên cạnh. Vừa khi đầu anh lính ló lên khỏi đầu tường là súng AK- 47 của những tên bắn lén không biết núp ở đâu bắn lốp bốp. Anh lính té ngược lui, đạn trúng mặt. Anh ta chỉ kịp kêu lên “Mẹ ơi”, rồi chết.
Carter bắn toang cánh cửa ngôi nhà bên cạnh. Rồi anh ta cùng với một anh hạ sĩ khác chạy nhanh vào. Chẳng có ai hết. Họ phóng qua bức tường trước mặt. Carter từ từ mở cánh cửa sổ và nhìn ra bên ngoài, tim muốn ngừng đập. Tại “ban-công” căn lầu hai tòa nhà bên cạnh có 3 lính CSBV đứng đó. Họ đội nón cối có gắn sao đỏ phía trước, gần đến nỗi có thể thấy được mặt nhau. Anh ta hơi ngại. Nếu bắn, không chắc an toàn cho vị trí của trung đội gần đó. Carter gọi anh hạ sĩ: “Ê! Nhìn đây nầy. Tom, có mấy thằng cùi đây nầy.”
- “Nói với tao làm quỷ gì? Bắn đi.”
Cú bắn đó thật dễ. Carter tháo cây M-16 và để lên vai. Anh ta nhắm một tên mặc kaki và bóp cò. Anh nầy té ngược lui. Carter nhắm lẹ qua anh thứ hai, anh nầy té qua “ban-công” xuống đất. Người thứ ba biến mất.
Carter nhăn răng cười với bạn, nhắm một chút nước bọt vào mấy đầu ngón tay và ngửi ngửi đầu nòng súng.
Mặt trời lặn, suốt đêm súng ba hồi nổ, ba hồi ngưng.
Đêm đó, Cheatham gọi tên các đại đội trưởng. Sáng ra, ông ta nói, toàn bộ tiểu đoàn sẽ tập trung tấn công Ty Ngân Khố và Bưu Điện. Đại đội Fox của đại úy Downs thì chiếm khu vực hai ty Ngân Khố, Bưu điện; Đại đội Hotel của đại úy Christmas chiếm ty Y Tế, nằm bên phải của Đại đội Fox; đại uý Meadows và Đại đội Golf của ông ta vì bị hao hụt hết 1/ 3 trong những ngày đầu nên được chọn làm trừ bị.
Với cố gắng bảo tồn vẻ đẹp và tính lịch sử của thành phố Huế, tướng Lãm và chính phủ ở Saigon yêu cầu bộ Chỉ huy TQLC hạn chế xử dụng vũ khí nặng, có nghĩa là không dùng bom, hoặc đại bác của hải quân, không dùng vũ khí gây hỏa. TQLC đối đầu với một lực lượng địch cao hơn về quân số, công sự chuẩn bị kỹ, bảo vệ kín, trang bị vũ khí tự động, đại bác không giật, súng cối và hỏa tiển. Chỉ có xe tăng là khí cụ TQLC có mà quân CSBV thì không. Lại có báo cáo quân CSBV xử dụng một số đại bác được gắn trên thiết vận xa của QĐ/ VNCH do họ chiếm được.
Tình hình rất tồi tệ cho phía TQLC đang tham chiến ở đây, từ người đại đội trưởng 30 tuổi cho tới anh binh nhì 18 tuổi có nhiệm vụ chiến đấu trên từng đường phố.
Cheatham nói với các đội trưởng một cách vắn tắt: “Các anh phải đào chuột từ trong hang của nó.
&
Buổi sáng ngày Chủ nhật, 4 tháng Hai, trời buồn rầu u ám, và lạnh. Súng lại nổ trên đường phố.
Đại úy Christmas cùng xạ thủ đại bác, trung sĩ Frank, A. Thomas, Jr. chỉ huy Đại đội Hotel tiến tới. Trung đội 1 tìm cách chiếm ngôi nhà sát ty Y Tế (Nhà thuốc Tây Lê Đình Phòng – ngd), trung đội ba chiếm ngôi nhà bên kia đường nhưng bị quân CSBV bắn dữ dội. Họ tháo lui, hai người bị thương. TQLC thảy lựu đạn khói xuống đường để che địch nhưng súng địch phía mặt hông bắn rất sát, xuyên qua màn khói. TQLC của Đại Đội Golf từ các cửa sổ của viện Đại Học (Morin cũ – ngd) bắn xuống. Đại úy Christmas và xạ thủ đại bác hội ý với trung đội trưởng, quyết định đưa cây đại bác 106 ly không giật lên để bảo vệ việc băng qua đường. Họ thả trái khói, quan sát tình hình, và toán xạ thủ 106 ly làm việc. Viên đạn bắn xuống đường, khói đen bốc lên, quân địch cúi đầu núp trong mấy phút. Thế là đại đội vượt qua bên kia đường.
Họ chiếm ty Y Tế. Súng nổ trong giây lát, một TQLC và một chục CSBV chết.
Lính TQLC leo lên mái nhà, chiếm các cửa sổ, và bắt đầu tác xạ vào phía hông ty Ngân Khố và Bưu Điện. Ở bên trái, Đại đội Fox đang đánh nhau với địch.
&
Thiếu úy Hausrath và trung đội đang ở phía trước. Carter đục một lỗ ở bức tường sân trước ngôi trường hai lầu của giáo hội Catholic (Thực ra đây là trường Trung Học Đệ Nhị cấp Bán Công Huế, đối diện ty Ngân Khố, bên kia đường Hoàng Hoa Thám – ngd) và các TQLC vội vàng chui qua đó tiến tới bức tường đối diện. Bên kia đường, ngay trước mặt là Ty Ngân Khố. Từ trên lầu ty Ngân Khố, quân CSBV bắn xuống đường như mưa, đạn vải lụp bụp trên tường và sân cỏ của ngôi trường. Ty Ngân Khố được xây vững chắc như một nhà kho gồm hai tầng, chung quanh là bức tường cao 8 bộ, sân có hàng cây.
Quân CSBV cố thủ bên trong.
Đại úy Downs và người mang máy truyền tin của anh ta vào được trong trường. Viên đại úy muốn một toán hỏa lực tấn chiếm kho bạc nên gọi Carter phá tường cho họ tiến vào. Carter ôm đại bác 3.5 nhưng phía nầy sân trường lại không có cửa. Anh ta phải bắn thủng một lỗ trên tường, cát gạch đổ xuống đường. Rồi anh ta phá một lỗ nhỏ ở bức tường trước của ty Ngân Khố, cẩn thận nhắm vào một điểm cách xa 15 bộ, chỗ quân CSBV từ trên lầu bắn xuống có thể bị cây và tấm bia đá cản tầm bắn của họ. Việc đó phí công.
Vừa khi toán hỏa lực đổ xuống đường, quân CSBV bắn như điên khùng. Các TQLC núp vào bờ tường, đạn bay qua đầu và dội trên mặt đường ngay sau lưng họ. Một anh lính trẻ tên là Washburn ló đầu lên bờ lỗ tường và ngọ nguậy. Bỗng người anh ta giựt mạnh và chùng xuống – anh ta bị địch bắn vào đầu. Mấy người khác vội vàng kéo anh ta ra khỏi cái lỗ đó. Anh ta còn hơi thở yếu nhưng đồng đội không thể mang anh ta quay lại bên kia đường mà không lảnh đạn.
Dọc theo bờ tường trường học, hạ sĩ Allbritton và tiểu đội của anh bắn như điên, cố gắng hỗ trợ cho toán hỏa lực. Phía quân CSBV cũng bắn dữ dội.
Toán trưởng hỏa lực, hạ sĩ Thomas R. Burnham quê ở Pennsylvania, chạy lom khom dọc theo tường, gần Allbritton, trông có vẻ chán nản. Bernie Burnham là con người huyền thoại của tiểu đoàn. Trước hết, anh ta 31 tuổi, từng chiến đấu ở Triều Tiên nhưng khi chiến tranh chấm dứt thì anh ta còn ở trong trại huấn luyện. Rồi anh ta làm thợ điện. Khi chiến tranh Việt Nam hâm nóng trở lại thì anh đăng lính qua Việt Nam. Bốn tháng trước, trong khi Cộng Sản tấn công Nông Sơn, anh ta đè mình lên một trái lựu đạn. Lựu đạn không nổ, anh ta sống một cách gan lì – Anh có được Hải Quân Chiến Công Bội Tinh – và là thần tượng của những anh TQLC 18, 19 tuổi trong trung đội, là người mà người khác nhờ cậy được.
Một lần nữa, hạ sĩ Burnham lại chứng tỏ thiên tài của anh.
Anh ta ló đầu lên lỗ tường rồi phóng thẳng xuống đường. Ai ai cũng nổ súng bắn che cho anh ta. Đạn của quân CSBV rơi chung quanh. Anh nằm sát vào bờ tường ty Ngân Khố, rồi nhắc bỗng Washburn lên vai chạy ngược lui bên nầy đường. Toán hỏa lực đứng dậy chạy trối chết theo anh ta trong khi anh ta chạy trong đám lửa đạn, nhào vào phía trong bức tường trường học. Nếu có thì giờ thì đám lính đồng đội la to hoan hô anh. Washburn chết tại sân cỏ trường học trước khi kịp chuyển về MACV.
Burnham thực hiện kỳ công đó khi Allbritton thấy một phóng viên và người mang máy quay phim dọn đồ quay về. Họ nói là họ trở về ban chỉ huy. Allbritton biết họ là dân sự và không nên có mặt ở đây làm anh ta thêm bực mình. Mấy TQLC hỏi anh nhà báo người Úc sao không quay trở lui giống như những người Mỹ, anh ta nói là sợ, không dám đi một mình.
Carter lại ngồi xổm bên cạnh bức tường với cây súng đại bác 3.5inch. Anh ta biết là anh có cây súng quái quỉ nầy và phải làm gì đây. Anh ta nghĩ là nên quay lại ngôi trường, đặt súng trên lầu hai mà bắn nát họng mấy thằng cùi bên kia đường.
Carter gọi to cho Hausrath và nói ý định của anh.
Trung úy Hausrath đang ngồi nghỉ bên bờ tường, gọi lại:
-“Làm thử đi, coi chừng bị bắn.”
Carter giỡn trở lại: “Trung úy muốn vậy hả?”
Carter và trợ viên khi thì bò, khi trườn, rồi chạy về phía ngôi trường. Bụi, đất, gạch đá văng tung tóe quanh hai người. Lính đang ngồi nghỉ, không ai bắn trả địch. Họ lại đứng lên, súng lại nổ. Phải hai chục phút họ mới băng qua được sân cỏ. Rồi họ xông vào một cái cửa lớn. Carter lấy làm lạ tại sao anh ta không bị thương. Họ đi ngang qua chỗ đại úy Downs và người mang máy truyền tin rồi theo cầu thang lên lầu hai. Tầng nầy dài, một phía là cửa lớn làm theo kiểu Pháp, phía kia có khoảng 15 cửa sổ ngó qua ty Ngân Khố. Carter đặt súng lên vai, hơi cúi mình xuống, anh trợ viên tra đạn vào nòng. Xong, Carter tiến ra cửa sổ, để mắt vào ống nhắm, bấm cò.
Viên đạn nổ bên phía ty Ngân Khố (Kho bạc).
Carter lại cúi mình xuống, trợ xạ thủ nạp đạn, rồi hai người lần ra hành lang, cho đạn bay qua cửa sổ. TQLC mang súng M-60 chạy lên cầu thang tiếp sức. Họ kê súng lên ngưỡng cửa sổ và bắn vào những chỗ họ thấy họng súng của địch ló ra bên phía ty Ngân Khố, xác định mục tiêu cho Carter. Thêm nhiều TQLC chạy lên lầu nữa, bắn liên tu, vỏ đạn đổ thành đống trên sàn nhà. Carter tiếp tục bắn. Anh ta không biết đã bắn bao nhiêu quả đạn nữa, có lẽ cả trăm. Địch cũng bắn lách cách bên ngoài làm cho Carter sợ, nhưng đồng thời anh ta cũng thấy vui. Lính TQLC vừa bắn vừa chưởi thề: “Đ. mẹ, trả lại cho chúng nó đi.”
Allbritton ngồi xổm đằng sau mấy cây cột bằng gạch, dùng M-16 bắn như mưa qua bên kia đường. Bất thần đạn bắn trúng vào cột làm văng mảnh ximăng vào mặt anh ta. Anh ta nhảy qua chỗ mới, gở nón sắt xuống, nhổ ximăng trong miệng ra. Anh ta nhìn lên thấy một TQLC đang núp phía sau, nhìn anh ta nhăn răng ra cười, nói lè nhè: “Mày biết không, Arkie, có thể được thêm một chiến thương bội tinh nữa đó.”
Cheatham chạy vòng quanh các tòa nhà trong trường chỉ huy cuộc đấu súng, cố làm thế nào để chiếm cho được ty Ngân Khố. Anh ta gọi máy, chỉ cho một chiến xa mục tiêu phía trước. Chiếc chiến xa ló đầu ra khỏi hai khu nhà hai bên, trước khi bắn được phát súng thì một quả B-40 nổ ngay trước mũi xe tăng. Tài xế dọt xe lui, càn lên đống kẽm gai. Cheatham chưởi thề, rồi gọi toán đại bác không giật 106 ly tới bắn mấy phát đạn làm vỡ bức tường.
&
Đại úy Harold Ernie Pyle hết sức bối rối. Trước khi đoàn xe đi Huế với ban chỉ huy của Đại đội 2/5, sĩ quan liên lạc không quân của Trung đoàn 1 TQLC có báo cho anh ta biết vài qui định khi vào Huế. Nếu gọi không yểm thì anh ta chỉ được hỗ trợ súng với loại đạn 7. 62ly và 20ly, hỏa tiễn 2.75 inch. Anh ta nghĩ, quỉ thiệt, bọn lính bộ có nhiều vũ khí hơn thế, điều họ cần là bom 500 cân Anh, bom lửa. Vào Huế, anh ta đã từng thấy máy bay oanh tạc Skyraider của Không Lực/ VNCH thả bom trong Thành Nội, vậy mà TQLC/ Mỹ thì bị cấm. Anh ta muốn – nếu thời tiết tốt – cho mấy chiếc Phantoms tấn công Kho Bạc (Ngân Khố), giúp cho TQLC chiếm mục tiêu được dễ hơn.
Nhưng không được vậy. Đại úy Pyle thấy đại úy Tom Fine, sĩ quan kiểm soát không yểm đi theo với vai trò như một sĩ quan bộ binh. Họ leo lên tầng hai viện Đại Học (lầu Morin ngd) và tìm hướng cửa ngó ra ty Ngân Khố. Họ mở một cánh cửa làm theo kiểu Pháp, núp ở hành lang và bắn qua Kho Bạc.
Họ thấy đại liên địch núp trong ty Ngân Khố bắn xuống đường. Đó là chỗ Đại Đội Hotel phải tiến tới. Và đó cũng là điểm gay go cho đại đội Fox. Đại úy Pyle đi tìm Cheatham.
Cheatham và sĩ quan quản trị, thiếu tá Ralph J. Salvati xuất hiện. Cheatham nhìn một lúc rồi gọi toán xạ thủ đại bác 106 ly. Toán nầy cho xe chở súng lên. Thiếu tá Salvati giúp họ đưa cây súng lên cầu thang và đặt vào góc phòng. Họ nhìn vào ống ngắm để định vị trí và bắn vài tràng đại liên 50. Xạ thủ nới giây buộc rồi tất cả bọn họ chạy lui núp sau hành lang. Xạ thủ lại kéo mạnh sợ giây, súng nổ, toàn bộ căn phòng rung rinh. Khi bụi tan đi, họ quay lại phòng. Trần nhà thủng một lỗ và cây súng 106 thì bị lấp dưới lớp vữa và gạch. Kế hoạch của Cheatham thành công: Phía dưới đường, tiếng súng của địch im bặt.
Thiếu tá Salvati nắm cây súng Thompson chạy đi quan sát xem Đại đội Fox hành quân như thế nào. Ông ta thấy đại úy Downs ở trong trường học. Anh ta thất vọng. Súng của TQLC chỉ bắn trúng vào tường ty Ngân Khố, quân CSBV thì có một xạ trường rất tốt. Mặc dù toán súng cối 81 ly của đại đội nằm trong sân trường Đại Học rót đạn trúng mái nhà nhưng tuồng như không mấy hiệu quả. Salvati biết ông ta không thể ở lại với ban Chỉ Huy Đại Đội được nữa nên gọi mấy TQLC cùng lấy 1 khẩu đại bác không giật 3.5 inch, ở lại với Đại Đội Fox. Toán xạ thủ nầy núp phía sau bức tường và bắt đầu tác xạ vào Kho Bạc.
Từ vị trí của mình, Carter bắn thêm một phát đại bác nữa, anh trợ thủ nạp đạn, Carter lại thò ra cửa sổ. Carter nhớ ra trợ thủ chưa đóng cơ bẫm. Anh cúi xuống, vói tay đóng cơ bẫm thì một trái B-40 bay vù vào, xuyên qua cửa sổ và nổ ầm trong hành lang. Bụi cát, đất, đá kiếng bể bay đầy hành lang trường học. Carter nhoài người lui phía sau cánh cửa lớp. Rồi anh ta nằm yên, không còn cảm giác gì về thân thể mình nữa, cũng không nghe mà cũng không thấy. Tất cả mọi thứ chỉ có một màu xám xịt. Điều anh ta làm được là tự nói thầm: “Chúa ơi! Chắc tôi chết.” Anh ta có cảm tưởng như đang kẹt trong một cái hầm đá, có một chút ánh sáng ở cuối hầm mà thôi. Anh ta tự nói thầm với mình nếu tay còn nhúc nhích được, đầu còn lắc lư được là chưa chết. Anh ta thử lắc đầu nhưng không được. Có tiếng la to: “Đem nó ra khỏi đây, chắc nó chết rồi.” Có ai đó nắm vào cổ tay anh ta lôi đi. Carter quẫy người, lắc đầu rồi ngồi dậy. Tay anh ta đau vì mảnh đạn. Toàn cả hành lang đầy khói và mảnh tường vỡ. TQLC chạy lên chạy xuống cầu thang mang người bị thương đi.
Vài người phía sau Carter rên lên, anh ta giật đầu nhìn lui. Phụ xạ thủ ngồi trong đống vữa, hai má dính máu, mảnh kiếng vô trong mắt. Carter không biết làm sao, không dám đụng vào mắt anh ấy. Anh ta lấy hộp giấy đựng phần ăn C và lanh lẹ quấn quanh đầu người bị thương.
Những người bị thương nhẹ lại bắt đầu trở ngược lên cầu thang. Toán xạ thủ M-60 lại nổ súng. Carter bước trên đống vữa đi tìm cây đại bác 3.5 inch của anh và lại bắt đầu bắn.
&
Trước khi tới phiên, khi ông ta còn trong ban Chỉ Huy Đại Đội, thiếu tá Salvati đã biết xử dụng súng phóng lựu đạn cay E-8. Đó là một loại thiết bị cao 2 bộ, có thể phóng trái đạn ra xa tới 250 mét. Thứ lựu đạn khói hiện được ném vào ty Ngân Khố tạo ra không đủ khói và tan rất nhanh. Ông ta nghĩ loại E-8 có thể đem ra xử dụng được. Ông ta nhớ trong khi MACV có cất giữ, chưa xử dụng tới.
Ông ta rời trường học, đi tìm Cheatham và nói với ông nầy ý định xử dụng loại vũ khí đó. Ông đại tá cho là ý hay. Salvati gọi tài xế, nhảy lên xe jeep, lái về MACV. Có vài quân nhân VNCH đang đứng gần nơi cất E-8. Họ trố mắt nhìn khi thấy Salvati vụt mấy cây súng phóng nầy lên thùng xe kéo sau xe Jeep.
Trở lại trường học, Salvati cùng với vài TQLC mang mặt nạ vào và chạy vào sân trường mang theo vũ khí E-8. Họ đặt súng phóng xuống, canh cho đạn vượt qua đầu tường, lọt vào Kho Bạc rồi họ chạy lui sau bức tường.
Salvati kéo giây cò, không có gì hết. Quái gì đây?
E-8 có thể cho nổ bằng cò điện nên Salvati chạy kiếm một hộp pin. – Ở đâu đó, ông ta cũng chẳng nhớ – xong quay trở lại sân trường và nối giây. Quả đạn nổ và bay qua Kho Bạc. Chất hơi không làm chết người bắt đầu xịt tóe ra khắp tòa nhà, bay ra khỏi cửa sổ và các khe hở. Lính CSBV không có mặt nạ chống hơi cay.
&
Đại úy Downs gọi Carter xuống, đại đội đang tấn công, anh ta phải yểm trợ hỏa lực bằng đại bác 3.5 inch. Carter vác súng kèm theo mấy viên đạn chạy xuống sân trường. Anh ta quỳ xuống và nhắm mục tiêu. Không thấy kẻ địch bắn anh. Anh ta đoán là họ đang chờ và sẽ nghiền nát đại đội ngay trên mặt đường. Phát súng đầu tiên của Carter phá toang cổng kho bạc, bay vào cửa chính, nổ, một cánh cửa rơi xuống. Phát thứ hai làm cánh cửa còn lại bay đi nốt. Anh ta bắn thêm một quả khói lân linh vào trong cửa rồi chạy tới bờ tường bắn trái khói xuống đường. Gió thổi khói bay ngược về phía ty Ngân Khố. Trong sân trường, đại úy Downs chuẩn bị binh sĩ tấn công.
Allbritton và tiểu đội nằm sát bờ tường, mang mặt nạ, giữ chặt súng M-16, chờ. Có người la to: “Tiến lên.” Họ đứng lên chui qua các lỗ trên tường và chạy như điên, băng qua bên kia đường. Chạy, chạy, chạy… vượt qua sân trước, qua cánh cửa bị sập, qua cửa Kho Bạc, toát mồ hôi! Allbritton cùng đồng đội quăng lựu đạn, rồi xông vào, bắn ngang hông.
Họ chạy vào hành lang, có một phòng bên phải, một phòng bên trái. Allbritton kêu hai người bắn yểm trợ cho anh ta rồi chạy tới cánh cửa cuối hành lang. Cửa nầy bị kẹt vì gạch cát đổ xuống. Có tiếng chân chạy sau cánh cửa, có tiếng người chạy từ trên cầu thang xuống. Có tiếng nói Việt nam. Allbritton la to, chỉ, xạ thủ M-60 bắn vào cửa. Họ quăng thêm lựu đạn. Cánh cửa bung ra. Người người chen nhau chạy lên cầu thang, bắn loạn xạ. Allbritton vượt cầu thang chạy ra một phòng nhỏ, ném lựu đạn, bắn M-16. Chẳng có ai ở đây cả.
Vỏ đạn AK-47 rơi trên sàn một phòng nhỏ trên cao.
Allbritton thấy mảnh E-8 trên sàn. Anh ta bước ra cửa sổ. Tường nhà dày 2 bộ, giống như công sự, đạn khó qua nổi. Anh ta nhìn qua kẻ hở. Địch thấy rõ ngoài đường và sân trường học. Đúng là một xạ trường lý tưởng. Anh ta bước lui, vừa đi vừa lẫm bẫm: “Đồ chó đẻ. Đồ chó đẻ!”
Hạ sĩ Burnham gom góp người trong tiểu đội lại ở trong lầu 1. Lính CSBV rút đi rồi, qua ngã mấy ngôi nhà và sân sau. Burnham chạy vào hành lang, bắn theo họ như điên. Có một người lính CSBV bị thương đang bò trong hành lang. Burnham trút hết băng đạn vào ngực anh nầy, trả giá. Trong ít phút, ty Ngân Khố và Bưu Điện được an toàn.
Lính TQLC đi băng qua đường. Đếm xác địch nằm trong đống gạch vụn. Mấy TQLC chớp mấy gói vàng thẻ và mấy gói bạc. Chẳng ai nói gì. Carter giúp đưa mấy người bị thương vì lúc nãy họ băng qua đường và bị CSBV bắn. Rồi anh ta đi quanh tòa nhà, thấy một cây B-40 bị bắn vỡ, mấy cái bao và thư rơi trên nền nhà. Trên lầu, có mấy hỏa tiển không nổ dính trong vách tường. Trong một văn phòng có mấy bức tranh vẽ còn treo trên tường, hình một cặp vợ chồng mới cưới và đồ chơi trẻ em nằm lẫn trong đám gạch cát vụn. Anh ta tìm một chỗ và chợt ngủ thiếp đi.
&
Sáng sớm, vài TQLC đánh thức Carter dậy, biểu anh vác đại bác tới Bưu Điện gấp. Có khoảng một chục CSBV núp trong căn nhà nhỏ, gọi không chịu ra. Căn nhà nhỏ nầy cách Bưu Điện khoảng 15 bộ, gần quá nên Carter không bắn được, mảnh đạn có thể văng ngược lui trúng anh ta. Anh ta leo lên mái, ra tới rìa, và nhắm. Anh ta bắn ba phát, cửa xoắn lại. Một TQLC Trung đội 2 quăng vào một trái lựu đạn cay. Lính CSBV từ trong tuôn ra, vừa ho vừa khóc. Súng máy nổ.
Xong, Carter tụt xuống. Một trong các trung sĩ khen anh ta giỏi và hỏi anh ta có bị bắn sẻ phải không? Carter nói vâng. Anh ta nghe tiếng súng nhưng vẫn cứ tập trung vào việc bắn. Anh trung sĩ cho biết đề nghị Carter được tưởng thưởng Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Đồng. Nghe thế, Carter thấy hơi thích.
Về sau anh ta chẳng bao giờ nghe nói tới huy chương, cũng chẳng bao giờ anh ta thấy anh trung sĩ đó nữa; có người nói là đã tử trận.
Cuộc chiến đấu trên đường phố Huế vẫn còn tiếp tục./

(còn tiếp)