Results 1 to 3 of 3

Thread: Nguyễn Thị Thụy Vũ – “Qua Trận Gió Kinh Thiên”

  1. #1
    Join Date
    Oct 10th 2013
    Posts
    1,484
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    222

    Default Nguyễn Thị Thụy Vũ – “Qua Trận Gió Kinh Thiên”

    .

    Nguyễn Thị Thụy Vũ – “Qua Trận Gió Kinh Thiên”.
    Nguyễn Tà Cúc




    Chân dung nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ
    và Tạp Chí Khởi Hành

    Nguyễn Tà Cúc

    (Khởi Hành số 207-208, March-April 2014)

    Lời Người Phỏng Vấn:

    Trong mấy nhà văn nữ của Miền Nam trước 1975, người viết muốn đặc biệt phỏng vấn nhà văn Thụy Vũ. Bà tên thật là Nguyễn Băng Lĩnh, sinh năm 1937, quê ở Vĩnh Long. Bà dạy tiểu học 5 năm trước khi lên Sài Gòn vào năm 1961.

    Lên Sài gòn, bà vừa đi học Anh văn vừa đi dạy Anh văn cho các cô bán”snack bar” hay các cô điếm cho lính Mỹ. Bà đoạt giải nhì Bộ Môn Văn – Giải Văn học Nghệ Thuật Toàn quốc năm 1970 (Người đoạt giải nhất là nhà văn Túy Hồng). Song song với việc sáng tác, bà còn lập nhà xuất bản Hồng Đức và Kẻ Sĩ với nhà thơ Tô Thùy Yên.

    Sau 1975, tác phẩm của bà bị cấm toàn diện. Bà đem các con về Lộc Ninh làm rẫy, có lúc làm lơ xe đò để lo cho gia đình. Người viết muốn phỏng vấn bà về hai vấn đề chính: thứ nhất, trường hợp một nhà văn nữ không sợ tai tiếng và thành kiến xã hội, đã giao du với đám phụ nữ cùng khốn nhất của xã hội và thứ hai, thái độ can đảm của bà sau 1975 trước sự đe nẹt công khai của các tay quản giáo văn nghệ. Qua sự dàn xếp của nhà văn Văn Quang người phỏng vấn đã có một cơ hội để tìm biết câu trả lời cho hai thắc mắc ấy.

    * Qua Trận Gió Kinh Thiên là nhan đề một tác phẩm của Thụy Vũ.

    Nguyễn Tà Cúc: Nếu Tà Cúc nhớ không nhầm thì chị Thụy Vũ có lần nói đâu đó là chị dậy các cô bán bar học tiếng Anh và qua đó, họ xuất hiện trong tác phẩm của chị. Như vậy, họ đến học với chị Thụy Vũ qua cách nào? Như đến nhà chị hay sao?

    Nhà Văn Thụy Vũ: Tôi đang dạy ở Vĩnh Long được 5 năm (bậc tiểu học). Sau đó tôi lên Sài Gòn đi học Hội Việt Mỹ được hơn 1 năm. Tiếng Anh của tôi chưa đầy một lá mít, nhưng tại sao tôi dám nhận dạy kèm cho mấy cô lấy Mỹ? Lúc đó tôi có một anh bạn học cùng lớp (lớp 2)Hội Việt Mỹ. Anh ấy ngồi cạnh tôi. Anh ta làm bài tập không giỏi nên tôi thường giúp anh ấy làm bài. Tôi hơi ngạc nhiên là anh ta nói tiếng Mỹ dòn tan như bắp rang mà không lý tới văn phạm.

    Một hôm vào giờ ra chơi, anh ta đề nghị tôi dạy thêm tiếng Anh cho mấy cô bán bar quen biết với anh ấy để có thêm chút tiền trả tiền học. Các cô gái đó đang thuê phòng của nhà anh ta để ngủ với mấy tên lính Mỹ.

    Tôi từ chối thẳng thừng và nói ông đừng chọc quê tôi. Tôi với ông mới học 2 khóa mà dạy ai đây?

    “Bạn cứ yên tâm nhận lời đi, tôi sẽ có cách…”

    Khi hẹn tới nhà anh ta vào ngày chủ nhật tôi mới biết anh ta là “ma cô.”

    Anh ta dắt tôi đi từng phòng và giới thiệu tôi sẽ là cô giáo dạy kèm cho họ. Tôi càm ràm anh trước khi ra về và hẹn hôm sau quay lại thử thời vận.

    - “Bạn biểu tôi dạy gì cho họ đây?”

    - “Tôi đã dặn họ rồi cô giáo dạy gì thì học nấy. Chớ có hỏi lôi thôi nghẹn.”

    Tôi không ngờ họ chưa hề biết đọc tiếng Việt thì làm sao đây?

    Công – bạn tôi nhanh nhẩu nói:

    “Bạn dạy i – tờ cho họ trước cái đã, rồi sau đó mỗi ngày bạn chỉ cần cho họ biết viết tiếng Anh một vài chữ trong một lần học là được rồi.”

    Tôi không ngờ là cách kéo dài thời gian của Công để tôi còn tiếp tục đi học với hắn. Họ nói tiếng “bồi” lưu loát không thể chê. Tôi cảm thấy ngài ngại thế nào vì tôi không thể nói như họ được.

    Họ thuê tôi dạy không phải học mà để có người tâm sự thì đúng hơn. Hình như mỗi cô đều có hoàn cảnh na ná giống nhau. Họ lên Sài Gòn làm để giúp gia đình khó khăn ở quê nhà. Tiếp xúc với họ lâu ngày tôi cảm thấy thân thiện như những người bạn. Tôi vừa đi dạy vừa viết truyện ngắn về cuộc đời của họ. Họ bắt đầu xuất hiện trong những tác phẩm của tôi.

    Nguyễn Tà Cúc: Chị viết rất thật, hết sức thật. Một ưu điểm của văn chương Thụy Vũ là người đọc có thể cảm nhận ngay rằng tác giả đã dựa sự sáng tạo trên những hoàn cảnh thật, nhân vật thật và sử dụng những kinh nghiệm của nhân vật thật ấy để bày họ ra trên những trang giấy, dĩ nhiên là của sự tưởng tượng; nhưng những hình dáng đó, những tâm cảnh đó không là sản phẩm của một sự tưởng tượng quá nghèo nàn đến nỗi tố cáo sự bịa đặt của tác giả. Viết truyện về gái điếm tưởng là dễ nhưng mà rất khó! Tà Cúc từng đọc một cuốn truyện tả tình cảnh của vài cô bán bar rồi làm điếm cho lính Mỹ –cùng đề tài nhân vật với chị– nhưng chỉ cần đọc những câu đối thoại là người ta biết ngay tác giả của nó chưa bao giờ có cơ hội nói chuyện với các cô làm điểm nên mới “sáng tác” ra những câu đối thoại hay cách suy nghĩ của cái kiểu “Nếu một tiểu thư đi làm gái điếm.” Và dĩ nhiên cái kiểu giả tạo đó không tốt đẹp gì cho cả cô tiểu thư lẫn cô làm gái điếm.

    Thụy Vũ: Tác phẩm của tôi có thể nói là đến 70 phần trăm dựa trên sự thực. Nó thực đến nỗi một hôm, hồi tôi ở sau đình Phú Thạnh, sau khi cuốn Lao Vào Lửa xuất bản thì có một anh lính mặc đồ rằn ri coi ghê lắm nghe giới thiệu mới chạy tới ôm tôi và hỏi “Phải cô là gái điếm không?”

    Tôi đẩy anh ta ra và la lên:

    Tôi chỉ viết truyện chớ tôi làm gái điếm hồi nào?!

    Anh ta mới nói tôi viết y như thiệt vậy. Nói thiệt chớ hồi đó họ cũng không biết tôi viết về họ đâu nghe. Nếu họ biết chắc họ rầy chết. Có khi tôi vừa ra bài cho họ thì trong khi họ làm bài, tôi ngồi viết về họ. Nhiều lần họ nói với tôi sẽ làm mai cho tôi một anh chàng Mỹ đàng hoàng chớ không phải đám GI như mấy cổ nhưng tôi từ chối. Tôi có thể nói là tôi đã đi tới hầu hết mấy ổ điểm sang nhứt ở Sài gòn. Nơi nào có học trò là nơi đó tôi tới.

    Nguyễn Tà Cúc: Cảm tưởng nào mạnh mẽ nhất mà chị Thụy Vũ còn giữ được sau mấy chục năm dạy họ? Chị có nghĩ về số phận đàn bà nói chung khi dạy họ hhông?

    Thụy Vũ: Mấy chục năm đã qua, chị hỏi về cảm tưởng mạnh mẽ nhất, có lẽ tôi không thể nhớ nổi rõ ràng. Nhưng dường như những hình ảnh của những cô gái bán bar đó còn vương vấn trong tôi. Nỗi đau âm thầm của họ giấu kín sau những son phấn lòe loẹt và những tiếng cười, những câu chuyện hoang toàng, tôi tưởng như chính những thứ đó đang phá nát tâm hồn họ, đang như cái xe đang lao dốc. Tôi thầm thương họ, thông cảm với họ và cũng chẳng biết làm sao hơn.

    Mỗi người một hoàn cảnh, cái điểm chung chính là nỗi nghèo khổ đã dồn họ vào con đường cùng. Cũng như bây giờ, rất nhiều cô gái quê ở Việt Nam, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhiều cô gái được gia đình đưa lên Thành phố Sài Gòn để “tuyển vợ” cho mấy chú Đài Loan, Đại Hàn hoặc đi Singapore làm đủ nghề kiếm sống.

    Tàn nhẫn hơn, ở những vùng sát biên giới Trung Quốc, chẳng thiếu gì chuyện những cô gái quê nghèo đó tự nguyện hoặc bị lừa bán sang Trung Quốc lưu lạc vào những ổ điếm, lấy những ông chồng già bệnh hoạn, làm việc như nô lệ… Phải chăng đó là thân phận hay số phận của phụ nữ nghèo Việt Nam? Tôi tự hỏi như thế và biết đến bao giờ xã hội mới có được một đời sống công bằng cho phụ nữ VN nói chung?

    Nguyễn Tà Cúc: Cũng lạ là hồi đó những năm 60 mà chị dám sống như vậy, dám đi cùng khắp khách sạn như vậy. Chị ở với ai, không sợ ba má la sao? Tà Cúc nhớ là ngay chính gia đình Tà Cúc đây, tối tối là đóng sập cửa lại, báo hại cứ trốn nhà đi chơi. Mà tóc thì không được uốn, không được son phấn nhiều…

    Thụy Vũ: Có chớ. Bà má tôi cứ sợ tôi hư nhưng tôi nói tôi viết về gái điếm chớ có làm điếm đâu. Hồi tôi mới lên Sài gòn thì tôi ở chung với Hồ Trường An, em tôi. Nó thua tôi một tuổi, bằng tuổi Viên Linh đó. Tôi viết mấy truyện bị ông già la quá vì lấy cảm hứng từ nhân vật trong gia đình ra mà viết đó chớ.

    Nguyễn Tà Cúc: Nói về chuyện người thật, việc thật, Tà Cúc nhớ lại là hồi đọc truyện ngắn “Lòng Trần” (tức là truyện “Muỗng nước mắm”) của chị, Tà Cúc thích quá và tự nhủ là nếu mai sau dù có bao giờ mà gặp tác giả thì sẽ hỏi coi là tại sao mà bà ấy biết được cái thèm “nước mắm” của một người ăn chay. Nhân vật chính trong truyện bà cô Năm Thàng. Anh Hồ Trường An tóm tắt cốt truyện như sau:

    “Năm Thàng là cô đào hát bội, thanh sắc lẫy lừng được một ông phú hộ say mê. Ông tình nguyện gia nhập gánh hát để được theo bước lưu diễn của cô. Ông săn sóc cô và soạn tuồng để cô diễn. Cảm động tấm chung tình của ông, cô bỏ nghề hát để làm vợ ông. Rồi đó, ông chồng chết vì tai nạn sét đánh, đứa con của cả hai cũng chết sau đó ít lâu. Cô Năm Thàng cắt tóc đi tu, lấy pháp danh là Diệu Tâm, sống khổ hạnh, giữ trai giới rất nghiêm nhặt cho tới tuổi già bóng xế. Ngờ đâu, trong phút hấp hối, sư nữ Diệu Tâm đòi húp một muổng nước mắm.

    Nhưng họ hàng thân tộc của bà cho rằng bà sắp thành chánh quả mà còn bị quỉ ma theo quấy phá để bà bị tội phạm giới. Cho nên họ nhất định không chiều theo ý của bà. Bà chết trong cơn hành hạ của thể xác, trong cơn thèm thuồng không được thỏa mãn. Càng chua xót hơn, trong phút lâm chung, bà quên mình là kẻ tu hành mà chỉ nhớ mình là cô đào hát bội Năm Thàng…”

    Tà Cúc muốn hỏi chị là chị có ăn chay hay không mà sao tả cái thèm nước mắm này hay quá. Vì thiệt tình, có khi người ta thèm nước mắm thôi chứ không thèm thịt cá gì hết.

    Thụy Vũ: À, chuyện này bắt nguồn từ cuộc đời cô ruột của tôi do ba tôi kể lại. Dĩ nhiên là 30 phần trăm còn lại thì là hư cấu. Phần tôi, hồi đó tôi không có ăn chay. Mới ăn chay có bốn năm nay thôi, Tà Cúc à.

    Nguyễn Tà Cúc: Nói về cuộc đời, về cuộc đời thiệt và cuộc đời trên sân khấu hát bội, Tà Cúc lại nhớ chuyện sau 1975.
    Anh Hồ Trường An có thuật lại như sau:

    - “Gần ngày mãn khóa, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nhật Tiến bị hai nhà văn Cộng sản là Bùi Đức Ái (Anh Đức), Nguyễn Sáng và các ông cán bộ cục R là Sáu Lăng, Hai Khuynh, Phan Đắc Lập cùng các nhà văn nằm vùng như Vũ Hạnh, Thế Nguyên mời lên văn phòng…

    Cả ba Long, Vũ, Tiến bị chỉ định làm bài tự phê tự kiểm… Thụy Vũ bước lên “giàn hỏa” trước hết. Nhưng để trả lời câu hạch tội của Bùi Đức Ái trong văn phòng, chị tôi nói:

    - “Anh Bùi Đức Ái đã hỏi tôi động lực nào đẩy tôi viết văn đồi trụy, dù tôi viết về gái điếm có khuynh hướng tốt. Tôi xin thưa, không ai bắt buộc tôi cả.” [...] Thụy Vũ điềm nhiên, sắc mặt nguội như tảng bánh đúc: “Thưa toàn toàn không. Tôi tự do sáng tác. Sở dĩ tôi viết khiêu dâm táo bạo là vì mãi tới 28 tuổi, tôi muộn chồng, xấu xí và không được anh chàng nào ngó ngàng tới và tôi bị ẩn ức sinh lý”[...]

    “… Trong buổi học sau, tôi dọn chỗ để ngồi gần hai ông anh tiểu thuyết gia hiền lành của tôi là Trọng Nguyên và Thanh Thủy. Họ cùng ngồi một dãy với chị Vinh, anh Nhật Tiến và chị Đỗ Phương Khanh. Họ xếp tôi ngồi gần chị Đỗ. Tôi cứ ngủ gục hoài làm anh Trọng Nguyên cứ gọi từng chập” “- Mày cứ ngủ hoài, họ để ý mày đó.”




    (Nhà văn Đỗ Phương Khanh)

    Vào cái hôm một nhà văn nữ làm màn tự phê tự kiểm, thấy đương sự vật vã van xin cộng sản cho mình cầm bút trở lại, chị Đỗ Phương Khanh(1) đứng dậy dõng dặc:

    - "Cô muốn xin viết lại thì nên xin cho riêng cô, đừng xin cho chúng tôi làm gì.”

    Cũng trong buổi hôm đó, có tên cán bộ cộng sản tên Mai Quốc Liên (2), dù là kẻ dự thính, nhưng hắn đã khinh miệt bảo phe cầm bút loại trên:

    - "Xin các anh chị đừng tiếc rẻ cái văn nghệ miền Nam nữa. Đó là thứ văn nghệ chợ trời, hiện đem bán sold chẳng ai mua.”

    Lập tức, chị Đỗ Phương Khanh đứng lên:

    -“ Anh Liên! Anh nhân danh ai mà nói câu ấy? [...] Chị vừa thét vừa khóc nức nở, làm cơn buồn ngủ tôi tan biến đâu mất…”
    (Hồ Trường An, Giai thoại hồng – Hồi ký văn nghệ, trang 302, 324-325)

    Đó là Thụy Vũ trong “Khoá bồi dưỡng chính trị” cho văn nghệ sĩ Miền Nam trong mùa hè năm 1976 tại Sài Gòn. Đó là lúc Miền Bắc gửi ngay nhiều cán bộ cao cấp vào Nam để mở màn công cuộc thanh trừng và “cải tạo” văn nghệ sĩ Miền Nam. Nhà văn Nhật Tiến cũng xác nhận thái độ đàn áp thô bạo gần như man rợ của đám người cũng mệnh danh cầm bút này qua một đoạn tường thuật về Khóa bồi dưỡng đó:

    - “Mai Quốc Liên tuyên bố trong khóa bồi dưỡng kể trên rằng ‘miền Nam các anh các chị làm gì có văn hóa!”

    Người phản ứng đầu tiên ngay sau khi Mai Quốc Liên buông câu nhục mạ là nhà văn Đỗ Phương Khanh, biên tập viên các báo Dân Chủ, Hòa Bình, Tân Phong, Đông Phương, Thiếu Nhi. Đỗ Phương Khanh đã đứng phắt dậy, chỉ vào mặt Mai Quốc Liên và cao giọng:

    “Anh vào Nam bao lâu, đọc được bao nhiêu cuốn sách rồi mà anh nói miền Nam không có văn hóa…”

    Mai Quốc Liên không thể trả lời câu hỏi này, trong khi tôi và Nguyễn Thụy Long cùng đứng dậy để chất vấn thêm về câu tuyên bố mục hạ vô nhân này, nhưng Chủ tọa đoàn đã vội vã tuyên bố nghỉ giải lao vì bầu không khí sục sôi của nhiều người tham dự.

    Một cán bộ, tôi không nhớ tên, đã tới ngay bên Nguyễn Thụy Long để kè anh đi ra. Còn tôi cũng bị nhà văn Vũ Hạnh kèm sát ra sân sau và nói:

    “Anh đừng có nóng! Anh phản ứng như thế người ta sẽ cho là anh phá hoại khóa học.”

    (Nhà văn Vũ Hạnh hiện còn sinh sống ở Sài Gòn)
    (Nhật Tiến,
    “Cuối cùng thì ông Mai Quốc Liên đã công nhận miền Nam có văn hóa”)

    Phản ứng của (các) chị (và các anh) lúc ấy thực là can đảm. Phản ứng đó cho thấy cái tương lai là họ sẽ không bao giờ đàn áp được văn nghệ sĩ Miền Nam như họ đã làm tại Miền Bắc, thí dụ như họ đã làm với nhóm Nhân Văn – Giai phẩm.

    Thụy Vũ: Khi tôi trả lời rằng tôi vì khủng hoảng sinh lý nên viết văn “đồi trụy”để trả lời cho họ việc họ kết án tôi là tôi viết văn “đồi trụy” rồi đi xuống thì chị Nguyễn Thị Vinh ôm tôi khóc:

    “Ôi em không biết gì về Cộng sản hết!”

    Nhưng sao tôi không sợ. Trước đó, họ biểu tôi nghĩ sao thì cứ nói, nhưng nói trong phạm vi ở đây chứ ra ngoài mà nói thì họ “không bảo đảm an ninh”cho tôi được. Tôi mới hỏi lại là “Mấy anh có bảo đảm được không? Còn tôi thì tôi sẽ không nói dối.” Sau khi phát biểu phần tôi thì nhà văn Nguyễn Quang Sáng bầy tỏ là ông rất thích cái cách của “dân Nam Kỳ nghĩ sao nói vậy.”

    Nguyễn Tà Cúc: Có lẽ chị không sợ dù trong tình cảnh “đằng đằng sát khí”ấy vì họ đã xúc phạm đến tác phẩm -tức là linh hồn là cốt tủy của con người chị. Họ có thể làm người ta sợ khi họ hăm dọa phần thể xác nhưng khi xúc phạm tới cốt tủy của một con người, ở đây là tác phẩm của một nhà văn thì nhà văn đó sẵn sàng chết cho cái cốt tủy ấy sống.

    Cho nên, phải nói Tà Cúc rất tiếc khi phải chứng kiến cảnh một nhà văn cũng có tiếng của Miền Nam mà bao lâu nay lại quyết định im lặng trước sự xấc xược của những “anh gù tại nhà thờ Đức Bà” (3) tới tác phẩm của mình. Nếu mà tới thời buổi này, đám dân ngu khu đen vẫn còn phải chạy đôn chạy đáo lên tiếng bênh vực cho các anh nhà văn – mà lẽ ra phải là ngược lại – thì không có gì đáng để các anh nhà văn đó tự hãnh diện hay đáng được người khác vinh danh ca ngợi cả (4). Chính phủ Việt Nam có cho xuất bản tác phẩm nào của chị chưa?

    Thụy Vũ: Chưa. Cách đây không lâu, họ có xin tôi truyện ngắn “Muỗng nước mắm” mà Tà Cúc nhắc đó để in trong một tạp chí nhưng tôi không cho họ đăng. Sách của tôi còn bị cấm toàn diện.

    Nguyễn Tà Cúc: Sau cùng, nếu chị được làm lại từ đầu, chị có chọn làm nhà văn không?

    Thụy Vũ: Không, giữa làm nhà văn và được là một người vợ hạnh phúc thì tôi chọn hạnh phúc.

    Nguyễn Tà Cúc: Tác giả Thụy Vũ có thể không muốn làm nhà văn nhưng độc giả Nguyễn Tà Cúc lại muốn chị cứ là nhà văn để được đọc những tác phẩm hoặc là nghệ thuật hoặc là phản ảnh một phần xã hội Miền Nam bấy giờ. Cảm ơn chị đã nói chuyện với Tà Cúc và cảm ơn anh Văn Quang đã dàn xếp cho hai chị em có dịp hàn huyên.


    Sài Gòn – California, ngày 19.3.2014
    Nguyễn Tà Cúc
    (Khởi Hành số 207-208, March-April 2014)
    Chú thích:

    (1) Đỗ Phương Khanh (bà Nhật Tiến) sinh tại Nam Định, xuất hiện lần đầu với truyện ngắn Đi Mua Giầy trên Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh. Sau khi Văn Hóa Ngày Nay đình bản, bà qua cộng tác với tạp chí Tân Phong của nhà văn Nguyễn Thị Vinh với nhiều truyện ngắn khác, sau xuất bản thành tập truyện Hương Thu do Đông Phương ấn hành. Sau biến cố Tết Mậu Thân 1968, bà về làm quản lý cơ sở ấn loát Hồng Lam ở Sài Gòn do Linh Mục Cao Văn Luận làm Giám Đốc.

    Đầu thập niên 70, bà giữ vai trò quản lý trị sự cho tuần báo Thiếu Nhi đồng thời phụ trách trang Vườn Hồng và sinh hoạt với Gia Đình Thiếu Nhi là một tập hợp độc giả của tuần báo này cho tới năm 1975. Cũng trong thời gian này, Đỗ Phương Khanh phụ trách trang nhi đồng cho nhật báo Hòa Bình với bút hiệu Mai Loan và là người phụ trách trang Phụ Nữ của nhật báo Dân Chủ cho tới năm 1975. Bà cũng là giám đốc vườn trẻ Anh Vũ, một cơ sở mẫu giáo chuyên dạy trẻ em theo phương pháp Montessori từ năm 1973 tới 1975. Tại Hoa Kỳ, bà dịch những tài liệu về Bảo Vệ Loài Vật và những câu chuyện của J. Krishnamurti với những bút hiệu Danny Việt, Vy Khanh …, đồng thời biên soạn “Chương trình tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng” phát thanh hằng tuần trên Little Saigon Radio và Hồn Việt TV với bút hiệu Liên Hương. Bà hiện cư ngụ tại Nam California
    .
    Code:
    http://phuongkhanhdo.wordpress.com/category/trang-chinh/

    (2) Mai Quốc Liên nguyên quán tại Điện Phước, Điện Bàn, Quảng Nam, là giám đốc Trung tâm Quốc học, giáo sư đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh v.v. Ông cũng là người viết tựa và đỡ đầu cho bộ Sông Côn Mùa Lũ của Nguyễn Mộng Giác – một người từng có mặt trong buổi họp đó, sau vượt biển sang Hoa Kỳ làm chủ nhiệm chủ bút báo Văn Học. Khi bộ truyện này được nxb Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học xuất bản năm 1998 tại Sài gòn. Thật không đáng tiếc: một người bị mắng như thế mà không có phản ứng thì sự quay về nhờ vả kẻ mắng mình cũng không có gì là lạ.

    (3) Chữ của Viên Linh chỉ Vũ Hạnh trong bài viết “Anh Lùn Cạnh Nhà Thờ Đức Bà” đăng trên tuần báo Nghệ Thuật số 27 tháng 4.1966. [VL chú thích]: Nguyên tháng 2.1966 trên tờ Tin Sách của Trung tâm Bút Việt (Văn Bút V.N.) Vũ Hạnh chê thơ tự do đang suy mòn và “thơ tự do hiện tại là con đẻ của lý trí nhất thời, đã bị lý trí từ khước, và nếu nó còn tồn tại ở mức nào là nhờ nó được nuôi dưỡng ở lòng tự ái nhiều hơn.” Ở đoạn khác ông ta viết: “Không có một cái nội dung dân tộc cụ thể, mọi sự đổi mới cũng sớm trở thành trừu tượng mâu thuẫn và xa dần dân tộc.”Lúc đó ai cũng biết nhóm VC nằm vùng (trong có Vũ Hạnh), lúc nào cũng mang chiêu bài dân tộc làm một cái khiên để bôi nhọ các nhà văn gốc Bắc di cư vào Nam sau 1954 và chia rẽ họ với đồng bào trong Nam. Bài trên ông ta viết chỉ trích cuốn tiểu luận nhan đề Tiếp Nối của Trần Thanh Hiệp do Sáng Tạo xuất bản, nhân đó phỉ báng thơ tự do, phỉ báng các nhà thơ qua mấy chữ “thơ tự do còn tồn lại là nhờ được nuôi dưỡng bằng lòng tự ái” [của những người làm thơ]. Tôi dùng hình ảnh anh lùn để chỉ Vũ Hạnh, như một người có khuyết tật (như anh gù Quasimodo của Victor Hugo) sống cạnh nhà thờ là bám víu vào lòng bác ái của các tín đồ ngoan đạo, kiểu cán bộ Vũ Hạnh bám víu vào hai chữ dân tộc để che mắt miền Nam hầu sống còn trong khi mưu đồ của họ là khác. Ít nhất ông ta cũng che mắt được hai ông Thanh Lãng và Phạm Việt Tuyền, chủ tịch và TTK hội Bút Việt, để cứu ông ta ra khỏi tù, rồi còn dùng tờ báo của hội để hoạt động cho cộng sản trong nhiều năm.

    (4) Lạ lùng hơn nữa là cái thái độ im lặng khả nghi ấy kèm thêm cái sự thực là mấy tác giả được cho in lại nhiều tác phẩm sau 1975 thì được tung hô vạn tuế ầm ầm trong khi sự can đảm của những phụ nữ như Thụy Vũ, như Đỗ Phương Khanh v.v… trong lúc đổi đời với loại tòa án nhân dân với những kẻ vô văn hóa như Mai Quốc Liên thì hầu như không nói tới. Điều phi lý ở đây là, nếu một tác giả Miền Nam cho phép các nhà xuất bản của chính phủ tái bản tác phẩm trước 1975 để vừa có danh vừa có tiền tác quyền, như trường hợp nhà văn Dương Nghiễm Mậu, thì khi bị tấn công, anh (hay chị) phải chịu trách nhiệm, chứ không thể ngồi chờ người khác lên tiếng cho mình trong khi các “người khác” vẫn bị cấm xuất bản hay tái bản. Dĩ nhiên, không ai có thể phán xét ai (người viết không có lời bàn nào về sự im lặng của Dương Nghiễm Mậu tại đây, trong bài phỏng vấn này) nhưng nói chung, đời nào lại có chuyện dễ dàng mà oái oăm như thế: anh vừa được nhà nước — cái nguồn đàn áp dân ngu khu đen và đồng nghiệp Miền Nam trước 1975 — cho phép tái-xuất bản rồi anh lại mong hay đợi cái đám nạn nhân bị đàn áp — đám dân ngu khu đen và nhất là đám đồng nghiệp Miền Nam trước 1975 vẫn còn bị cấm tái bản hay xuất bản — phí giấy và phí chữ bênh vực cho anh khi anh bị quản giáo văn nghệ tấn công?!

    • Oái oăm hơn nữa là nếu cứ im lặng đi thì cũng là một nhẽ, đằng này lại có kẻ viết bài cả gan gán cho sự im lặng đó những danh hiệu cao quý do anh ta đoán ra để choàng những vòng hoa hâm mộ lẽ ra chỉ dành cho người tuẫn tiết vì đã dám lên tiếng! Sự thực là nếu ai cũng im lặng hết thì người Miền Nam lấy gì để chứng minh là họ đã không đầu hàng, không quy xuống? Và tiếp tục không quy xuống dù đã phải tiếp tục trả cái giá rất đắt cho đời văn của họ cho tới nay? Như Thụy Vũ? Và như bao nhiêu tác giả khác nữa?

    • Chú thích thêm của Thày Cò Ca Hát:

    1. Cách đây 7, 8 năm, một văn hữu từ V.N. hỏi chúng tôi có phải tờ Khởi Hành trước 75 từng bị tịch thu vì đã đăng bài thơ mà nhạc sĩ Phạm Duy sau đó phổ nhạc không? (Bài thơ đó có những. câu như “anh trở về dang dở đời em”). Không hề có chuyện đó và Khởi Hành không bao giờ bị tịch thu vì bất cứ nguyên do gì. Tôi có hỏi: "Tại sao giờ này các anh muốn rêu rao là hồi VNCH thơ văn các anh bị tịch thu, để làm gì? Có phải các anh muốn đánh tiếng cho chế độ hiện hành tin rằng hồi xưa sáng tác của các anh bị tịch thu, vì các anh chống VNCH đấy chứ? Các anh cần đến nỗi phải bịa ra chuyện không có là Khởi Hành bị tịch thu vì đăng thơ anh."

    2. Chuyện tương tự mới xảy ra một hai tháng nay: một nhà văn ở miền gió cát mới viết một bài bênh vực bạn mình, rằng bạn mình từng viết trên tờ Thời Tập của Viên Linh hồi đầu năm 75 rằng “nhất quyết ở lại, không chạy theo Mỹ, vì không làm chó săn cho chủ.” Giờ này (2014) anh rêu rao là hồi 1975 anh đã tuyên bố không di tản là nhằm ý gì? Để chứng tỏ với chế độ hiện hành là anh có công, anh từng có lòng “ở lại với cách mạng” từ 1975 chăng? Anh cứ yên tâm, lòng anh ra sao người ta đều biết cả.
    Hết bài phỏng vấn!
    …………………………
    Tham khảo:
    Nhà Văn Thụy Vũ: – một tác giả nữ bắt đầu xuất hiện trên văn đàn miền Nam từ những năm 60s trên Bách Khoa- cùng thời với một Túy Hồng điên “cơn điên tím” rất Huế, một Nguyễn Thị Hoàng chói chang (& rạo rực?!?) nắng hạ của “vòng tay học trò”, một Nhã Ca nói chuyện Huế Mậu Thân và “đời sống ôi buồn như cỏ khô”...Nguyễn Thị Thụy Vũ hiện ra với một hình ảnh trần trụi khác, đời sống của một tầng lớp khá đặc biệt trong xã hội miền Nam thời đó – đời sống của gái bán bar – nơi đó không có những chất vấn siêu hình, những suy tư thời cuộc, thân phận… như đã từng bắt gặp đâu đó trong những truyện ngắn, dài của các tác giả nữ cùng thời…mà chỉ là một trần trụi của đời sống & một cách thế sống riêng tây của một “tầng lớp” như thế, nhưng rốt ráo, họ vẫn là những con người, niềm riêng đầy đau đớn, sần sùi lại bị quăng quật vào một phông nền phi lý của chiến tranh – mặc dù trong nhiều truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ, bà chỉ như viết ra những diễn biến thấy ngay trước mắt – nhưng gieo vào lòng người đọc những suy nghĩ về những cái thỏa hiệp (phải có) với đời sống, cái nồng tanh của đời sống thay vì chỉ là những phong hoa tuyết nguyệt, những vuốt ve mơn man… Cách viết ấy, nếu có thể tượng hình, có thể đó là cái đau điếng quật xuống của làn roi, phô bày hết những nhức nhối.

    Tuy nhiên, sau cái sự trần trụi ấy (trần trụi của cuộc sống gái bán bar, lấy Tây hay những mảnh đời đặc biệt, nhiều “ẩn ức” khác) – trần trụi từ ngôn ngữ của các nhân vật..cho đến ngôn ngữ xây dựng câu chuyện của tác giả – là một khát khao sống…sống ngay cả trong đống bùn của đời sống mang đến, của thân phận, sống trong những chông chênh của cuộc nội chiến, (mặc dù nhiều khi là) giành giựt nhau sống, tranh chấp nhau sống….Vượt thoát & sống! Sự phóng túng và nuông chiều chính bản thân trong những khát khao tầm thường, bản năng… buộc mình trôi theo dòng … làm rúng độc độc giả của miền Nam một thời là như thế…

    Trong bài PV có nhắc đến truyện Muỗng Nước Mắm (cũng xuất hiện trong tuyển tập Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta 1974 với tên là Lòng Trần), một sự kiện về Vũ Hạnh, tôi cũng xin cung cấp tài liệu đó trên blog này

    {Viên Linh gọi Vũ Hạnh là “Anh Lùn Cạnh Nhà Thờ Đức Bà” trên tuần báo Nghệ Thuật số 27 tháng 4.1966. [VL chú thích]: Nguyên tháng 2.1966 trên tờ Tin Sách của Trung tâm Bút Việt (Văn Bút V.N.) Vũ Hạnh chê thơ tự do đang suy mòn và “thơ tự do hiện tại là con đẻ của lý trí nhất thời, đã bị lý trí từ khước, và nếu nó còn tồn tại ở mức nào là nhờ nó được nuôi dưỡng ở lòng tự ái nhiều hơn.” Ở đoạn khác ông ta viết: “Không có một cái nội dung dân tộc cụ thể, mọi sự đổi mới cũng sớm trở thành trừu tượng mâu thuẫn và xa dần dân tộc”. Lúc đó ai cũng biết nhóm VC nằm vùng (trong có Vũ Hạnh), lúc nào cũng mang chiêu bài dân tộc làm một cái khiên để bôi nhọ các nhà văn gốc Bắc di cư vào Nam sau 1954 và chia rẽ họ với đồng bào trong Nam. Bài trên ông ta viết chỉ trích cuốn tiểu luận nhan đề Tiếp Nối của Trần Thanh Hiệp do Sáng Tạo xuất bản, nhân đó phỉ báng thơ tự do, phỉ báng các nhà thơ qua mấy chữ “thơ tự do còn tồn lại là nhờ được nuôi dưỡng bằng lòng tự ái” [của những người làm thơ]. Tôi dùng hình ảnh anh lùn để chỉ Vũ Hạnh, như một người có khuyết tật (như anh gù Quasimodo của Victor Hugo) sống cạnh nhà thờ là bám víu vào lòng bác ái của các tín đồ ngoan đạo, kiểu cán bộ Vũ Hạnh bám víu vào hai chữ dân tộc để che mắt miền Nam hầu sống còn trong khi mưu đồ của họ là khác}


    http://nguoitinhhuvo.wordpress.com/
    Last edited by Đỗ Phương Khanh; 08-29-2014 at 21:33.

  2. Thanks marseille, viet.tl, TKiem, bach-tuyet thanked for this post
  3. #2
    Join Date
    Oct 10th 2013
    Posts
    1,484
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    222

    Default Nguyễn Thị Thụy Vũ, giữa dòng đời nghiệt ngã

    .
    Nguyễn Thị Thụy Vũ, giữa dòng đời nghiệt ngã
    Vương Trùng Dương





    Đôi Dòng:

    Tháng Tư năm 2000, tôi đọc bài viết “Người Con Gái 27 Năm Với Đời Sống Thực Vật” của nhà văn Văn Quang từ trong nước viết về hình ảnh quá thương tâm của cháu Khôi Thụy (con của Tô Thùy Yên và Nguyễn Thị Thụy Vũ):

    “Trong căn phòng nhỏ hẹp, trên chiếc giường lạt tre thưa thớt, một thân hình con gái trắng nhễ nhại với chiếc quần cụt, chiếc áo thung ngắn tay nằm ngay đơ trên chiếu chỉ trải có nửa giường. Bởi nơi đó là nơi cháu vừa ăn ở, vừa đi vệ sinh, vừa làm chỗ tắm. Cháu không thể nằm nệm vì chẳng có thứ nệm nào chịu cho nổi. Phải nằm nửa giường lạch tre thưa để tiện cho mọi công việc ăn uống, tắm rửa. Hơi thở thoi thóp, cái thân hình con gái căng đầy, cặp chân nhỏ xíu chẳng cân xứng chút nào với thân hình. Cháu không hề biết mình sống hay chết, không biết đói no, không biết gì hết ngoài hơi thở là của con người. Cho ăn thì ăn, ăn bất cứ thứ gì được mẹ hay các cô dì, bạn của mẹ đưa vào miệng. Không cho ăn, cháu cũng chẳng đòi. Thỉnh thoảng cháu hú lên không phải vì đói mà vì một lẽ gì đó không ai biết. Tiếng hú như tiếng kêu của một oan hồn hơn là một con thú hoang…”.

    Đây là bài viết đầu tiên về NTTV, khi đọc rất xúc động. Trước năm 1975, tôi chưa gặp NTTV nhưng những người thân trong gia đình chị và tôi có quen biết nhau (đề cập trong bài viết) nên tôi tôi viết bài “Nguyễn Thị Thụy Vũ, giữa dòng đời nghiệt ngã” vào tháng Năm năm 2000. Bài viết đăng trên vài tờ báo ở California và trên trang web Quán Gió ở Uùc Châu. Qua hai bài viết, một số độc giả và thân hữu có lòng từ tâm hỗ trợ số tiền qua anh Văn Quang để chị NTTV ổn định cuộc sống để nuôi cháu Khôi Thụy.

    Năm 2005 tôi thực hiện tờ báo và trang web Cali Weekly. Được biết anh Văn Quang cùng khóa với anh Hoàng Tích Thông trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến (thông gia với tôi) vì vậy hai anh em thân tình và liên lạc thường xuyên. Mỗi tuần anh Văn Quang với mục “Viết Từ Sài Gòn”, tôi giới thiệu với anh Tống Hoằng, chủ nhiệm nhật báo Viễn Đông ở Little Saigon, tiền nhuận bút trả đều đặn với điều kiện chỉ đăng ở Viễn Đông tại Nam California, còn các nơi khác thì tùy ý tác giả. Hàng tuần với một bài viết cũng ổn định được cuộc sống ở quê nhà, anh Văn Quang không thích không khí xô bồ ở Sài Gòn nên lên Lộc Ninh sống để vui thú điền viên và viết lách nhưng được thời gian thì bị chính quyền địa phương kiềm kẹp, truy xét nên đành quay lại Sài Gòn. Khi anh Tống Hoằng lâm trọng bệnh thì nhật báo Viễn Đông không còn mục “Viết Từ Sài Gòn”.



    Trải qua 14 năm, tôi đọc được những bài viết về NTTV, giải tỏa được đôi điều ngộ nhận về sự liên hệ giữa lằn ranh Quốc/Cộng trong gia đình chị.

    Nhà văn Trần Hoài Thư, chủ trương tạp chí Thư Quán Bản Thảo thực hiện chủ đề về Nguyễn Thị Thụy Vũ vào mùa Thu năm nay. Nhân dịp nầy, lục lại bài viết 14 năm trước với chân dung nhà văn trong tuổi già bóng xế ở quê nhà .

    VTrD*
    ***

    Vào thập niên 60 những khuôn mặt nữ lưu xuất hiện với Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ... đã tạo được thế đứng trên văn đàn Việt Nam.

    “Nguyễn Thị Thụy Vũ, nhà văn phái nữ, hiện diện giữa khung trời văn nghệ với sắc thái đặc thù. Những ý nghĩ bỏng cháy và rẫy rụa về thân xác trong mỗi tác phẩm, đôi khi vượt qua ý nghĩ của nhiều người”
    (Tạ Tỵ - Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, Sài Gòn 1973).

    Ngọn bút của Nguyễn Thị Thụy Vũ có tính cách táo bạo, sống, sinh động vì vậy đã gây sự xôn xao trong dư luận trước quan niệm phê phán về tính cách sống sượng, khiêu dâm và quan niệm đồng tình vì thể hiện thực trạng, lối sống, tâm lý con người trong cuộc sống. Uyên Thao nhận định: “Nguyễn Thị Thụy Vũ là một cây bút khá sắc bén và tinh tế, nhưng vẫn những sơ hở nặng nề của một tinh thần tùy hứng”
    (Các Nhà Văn Nữ Việt Nam 1900 - 1970, Sài Gòn 1973).

    Nguyễn Thị Thụy Vũ sôi động trên văn chương chữ nghĩa nhưng trong cuộc sống mang bao điều trăn trở, bất hạnh trải dài với thời gian. Và, nhìn lại những nhà văn nữ cùng thời thuở đó, ở quê nhà Nguyễn Thị Hoàng và Nguyễn Thị Thụy Vũ qua một phần tư thế kỷ, giã từ nghiệp dĩ, sống lặng lẽ với bóng tối cuộc đời.



    * Chân Dung

    Nguyễn Thị Thụy Vũ tên thật là Nguyễn Thị Băng Lĩnh, sinh năm 1937 tại Vĩnh Long. Nhà văn sống giữa hai lằn ranh Quốc - Cộng trong gia đình. Vì sống giữa lằn ranh đó, NTTV đã gánh chịu bao điều ngộ nhận về khuynh hướng chính trị, khi con người rơi vào trường hợp thương tâm, chấp nhận bao hệ lụy đưa đẩy thì bỏ mặc thế nhân tiếng chì tiếng bấc.

    Sinh trưởng trong gia đình văn nghệ, thân phụ là nhà thơ Mặc Khải, tác giả các tập thơ Sông Nước Cổ Chiên, Phấn Nội Hương Đồng, Yên Vân Hành, Lửa Thép, Vòng Chuyển Hóa… Mặc Khải nằm vùng, hoạt động nằm vùng cho Việt Minh từ năm 1945 trong phong trào “Thanh Niên Tiền Phong”, ở ngã ba Trung Lương, gia nhập bộ đội Trung Lương. Sau năm 1954 về hoạt động bí mật nội thành.

    Giữa thập niên 60, Lữ Phương, Vũ Hạnh, Mặc Khải… ra đời tờ Tân Văn. Khi tờ Tân Văn bị đóng cửa, Mặc Khải lui về Lộc Ninh mở tiệm thuốc tây.

    Thân phụ Mặc Khải từng là tri huyện ở Mỹ Tho, cụ ông có nhiều vợ, trong đó có nữ sĩ Song Thu, uyên thâm về nho học, nhân vật tên tuổi cùng với Đào Vân Khanh, Băng Tâm trong hội Khuyến Học. Cụ Song Thu tên là Phạm Xuân Chi, cháu nội cụ Phạm Phú Thứ, cô của Phạm Phú Quốc, dòng dõi nho sĩ ở Quảng Nam. Mặc Khải là anh cùng cha khác mẹ với hai chị em Phương Đài (Nguyễn Thị Thu Hường) và Xuân Hoàng. Nhà thơ Phương Đài, tác giả Đất Mẹ và Hiếu Lễ Mùa Thơ, có mối quan hệ mật thiết với Vũ Hạnh, Lưu Nghi, Tường Linh, Kiên Giang, Chinh Văn... và số văn nghệ sĩ thân tả thời đó. Năm 1971 bị bắt vì tình nghi hoạt động cho Cộng Sản được Linh mục Thanh Lãng và Trần Văn Ân can thiệp nên được thả, sau đó tham gia vào Văn Bút Việt Nam. Sau tháng 4-75 Phương Đài có chân trong hội Văn Nghệ Giải Phóng, được thời gian rồi bị thất sủng

    .

    Xuân Hoàng (Oanh) lập gia đình với ký giả Trần Quân, chủ trương tuần báo Minh Tinh, Tổng thư ký nhật báo Tiếng Vang. Trần Quân còn có nhiều bút hiệu như Sức Voi, Thanh Quang, Hoàng Ái Phương, Bút Nguyên Tử. Trong thời kỳ kháng chiến vào giữa thập niên 40, Trần Quân tham gia vào đoàn thanh niên cứu quốc của mặt trận Việt Minh, bị nghi ngờ tình báo Cộng Sản cài vào hoạt động ở Sài Gòn nhưng nhà báo thích ánh đèn mầu, mê cá ngựa của nếp sống đô thị cũng bị bắt cùng lúc với Phương Đài, và được thả sớm. Sau năm 1975 Trần Quân còn được ưu đãi vài năm nhưng rồi vào trại tù, tin đồn với hai lý do: tội bỏ hàng ngũ, tội hoạt động cho tình báo Mỹ. Ông trải qua bảy năm trong lao tù Cộng Sản, chết năm 1992.

    (Bài viết “Thụy Vũ chăn dê” của Đỗ Tăng Bí vào tháng 12 năm 2004 cho biết:

    Ba tôi có bằng gì kiểu như Trữ Dược đó. Ổng mở một tiệm thuốc tây nhỏ ngay khu chợ Lộc Ninh, thực tình để ổng nuôi cán bộ, trợ cấp tiền bạc cho Việt Cộng. Ổng là Cộng Sản mà. Ổng mê Cộng Sản lắm, nói nó lý tưởng. Đâu dè sau này... Sau 75, ổng là cố vấn cho Hội Văn Nghệ gì đó. Mới “giải phóng” vô, tổ chức học tập, bọn chúng đến nói ba tôi: Anh không biết dạy con (Thụy Vũ). Con anh nói nhiều cái khó nghe quá. Ông già tôi nói: Tôi hãnh diện vì nó. Nó có lý tưởng nó, tôi có lý tưởng tôi. Ông ấy điệu lắm. Ổng mất hai mươi mấy năm rồi. Hồi mới kêu bằng “Quân Quản” đó thì ông ấy là cố vấn Hội Văn Nghệ ở Sài Gòn. Lúc đó có Bảo Định Giang. Hồi xưa Bảo Định Giang đánh xe ngựa cho ông già tôi. Một hôm ổng đến nhà Bảo Định Giang nói với anh gác cửa: Vào nói Bảo Định Giang có thằng đánh xe ngựa tới thăm. Thật đúng bây giờ đổi đời... Mấy anh biết cái nhà từ đường của nhà tôi ở Vĩnh Long không, trời ơi là một gia tài đó, bao nhiêu đồ cổ quí giá, vậy mà năm 75 ổng hiến tặng cho nhà nước. Bây giờ người ta vẫn nói nhà đó tiền tỷ tỷ mà con gái thì chăn dê, chăn bò khổ cực. Đây nè, thằng con trai tôi nè, nó học xong đại học Anh ngữ rồi đó chứ, bây giờ về giúp mẹ chăn bò... Nhiều khi chơi với thú vật sướng hơn, nó không có phản bội mình...”)*

    Nguyễn Thị Thụy Vũ chung sống với Tô Thùy Yên, phục vụ ở phòng Văn Nghệ, cục Tâm Lý Chiến (Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định. Theo học tại Petrus Ký và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, ban văn chương Pháp. Nhập ngũ năm 1963, phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính Trị, cấp bậc Thiếu Tá. Tô Thùy Yên lập gia đình với vợ chánh là bà Huỳnh Diệu Bích. Sau 1975, Tô Thùy Yên bị bị tù gần 13 năm. Năm 1993 cùng gia đình với người vợ trước sang Mỹ theo diện HO…).

    Em ruột Nguyễn Thị Thụy Vũ là Hồ Trường An (Nguyễn Viết Quang), khóa 26 Thủ Đức, phục vụ ở ban Thông Tin Báo Chí, khối Chiến Tranh Chính Trị, Quân đoàn III. Ngoài bút hiệu quen thuộc là Hồ Trường An, còn có nhiều bút hiệu khác như Đinh Xuân Thu, Người Sông Tiền, Đặng Thị Thanh Nguyệt. Sau tháng 4-75, Hồ Trường An oán trách chế độ, tình cha con bị sứt mẻ, Hồ Trường An thuộc diện gia đình có công “cách mạng” nên không bị lao tù như tất cả sĩ quan QLVNCH, hai chị em “được ghi tên” khóa học Bồi Dưỡng Chính Trị, Hồ Trường An được làm việc ở Thư viện Quốc Gia, cuối năm 1977 Hồ Trường An sang định cư tại Pháp theo diện bảo lãnh.

    Đổi đời, Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng như hầu hết vợ sĩ quan chế độ cũ lâm vào cảnh khốn cùng, bương chải ngược xuôi để nuôi đàn con dại, trong đó có đứa con gái mới hai tuổi, bại liệt đôi chân, nằm liệt trên giường “Không hề biết mình sống hay chết, không biết đói no, không biết gì hết ngoài hơi thở của con người”. Không thể chịu đựng nổi khổ cực, về cư ngụ ở ngôi nhà cha mẹ tại Lộc Ninh, nơi chốn được xem như địa bàn giao liên của ông bà Mặc Khải nhưng rồi Cộng Sản làm khó dễ. Cuối cùng, có nơi tá túc nhưng chân yếu tay mềm không làm rẫy được nên NTTV trở lại Sài Gòn, nơi chốn cũ, NTTV phải làm giấy tờ với mẫu đơn thật buồn cười "Đơn xin tạm trú trong căn nhà của tôi", không được “ân sủng” cầm bút trở lại mà còn bị gán ghép nhà văn đồi trụy, dâm ô vì vậy NTTV rơi vào nghịch cảnh trong gia đình.

    Về hình ảnh Nguyễn Thị Thụy Vũ, trong ký sự văn học Giai Thoại Hồng của Hồ Trường An ấn hành ở Hoa Kỳ năm 1989 viết về những cây bút nữ giới, trong đó có hai người thân trong gia đình là Phương Đài và NTTV.

    “Hồi còn nhỏ, Nguyễn Thị Thụy Vũ chỉ được màu da trắng mát như cánh hoa ngọc lan. Trán chị hơi vồ, mũi chị hơi tẹt, răng có cái lòi xỉ. Chị bắt chước tôi ăn mặc theo lối con trai... nhìn chị ai cũng tưởng đó là một chú kim đồng thông minh dĩnh ngộ.

    Càng lớn lên, chị đằm thắm lại, tuy có nghịch nhưng nghịch ngầm, cười nói lúc nào cũng kín đáo, nhỏ nhẹ. Trán chị bớt vồ, hai chiếc răng lòi xỉ được cưa để làm hai chiếc răng giả thật khéo... Cái ưu điểm của Thụy Vũ là chiếc miệng đẹp với đôi môi thanh tú, thường nở một nụ cười đằm thắm hồn nhiên. Hơn nữa, chị không làm dáng, không điệu hạnh, uốn éo gì hết trơn. Nhưng đôi mắt chị sáng quá, một thứ sáng kỳ dị như muốn thôi miên người đối diện” .

    “Từ tuổi mười lăm, chị tôi sống lêu bêu. Vì bệnh hoạn lại không tự ái, nên chị tôi lười học. Tôi không hiểu chị tôi thích gì. Chị đọc tiểu thuyết tình của Ngọc Sơn, Thanh Thủy, Dương Hà, Nguyễn Ngọc Mẫn... thơ của Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, T.T. Kh... Nguyễn Thị Thụy Vũ cứ sống cà ngơ cà ngất như vậy cho tới lúc đi dạy học”.

    “Thi rớt bằng trung học đệ nhất cấp, chị tôi thi vào ngành giảng tập viên, cam phận làm cô giáo làng suốt năm năm. Sau đó tôi đốc xuối chị bỏ quê quán ở Vĩnh Long lên Sài Gòn học tiếng Pháp ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp, học tiếng Anh ở London School và Hội Việt Mỹ”.

    “Tại Sài Gòn trong các năm 1962-1963. Chị tôi bắt đầu viết nhật ký... Chính tập truyện đầu tay của Túy Hồng thúc dục Thụy Vũ lao vào văn đàn đã có Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo thắp đuốc tiền phong”
    (HTA -GTH).

    Hồ Trường An kể lại câu chuyện thật lý thú về người chị dùng ngải “thứ ngải thoa vào môi nói gì ai cũng nghe theo” để gặp văn nhân như Thanh Nam hầu chọn đăng truyện ngắn nhưng tiếc rằng ngải không hiệu nghiệm. Vì vậy, sau nầy truyện ngắn Chiếc Giường trong tập Lao Vào Lửa, NTTV viết về hình ảnh cô gái bán bar dùng bùa ngải để mê hoặc khách làng chơi thật sinh động.

    “Gặp ông Võ Phiến, tôi nói ngay ý định của chị tôi, nhờ ông đỡ đầu cho chị trong bước đầu viết lách... chị tôi chìa bản thảo mà chị đã chép lại một đoạn trong quyển nhật ký của mình... Một Buổi Chiều là cái chìa khóa để một cô giáo làng mở một cánh cửa bước vào văn đàn"
    (HTA - GTH).

    Băng Lĩnh yêu con đường văn nghệ và vì tự mình lập thân với “ngón nghề” ngộ nghĩnh và vớ vẫn qua bùa ngải. Không dùng nó để mồi chài tình yêu, lường gạt tiền bạc, vật chất người khác mà xử dụng để cho văn nhân chọn ngọn bút của mình trên trang báo. Và, ngòi bút của Băng Lĩnh không lọt vào đôi mắt của Võ Phiến, Chủ bút tạp chí Bách Khoa, chủ trương nhà xuất bản Thời Mới, bằng chiêu thức đó.

    “Chai ngải của chị tôi bị tôi lỡ tay làm đổ. Tôi mua chai xá xị khác thế vào mà không cho chị biết. Vào hôm đi yết kiến ông Võ Phiến, chị đem nước xá xị thoa lên môi, đợi môi khô chị mới thoa một lượt son màu hường tươi... Khi nghĩ tới phải hội kiến một nhà văn lớn,chị tôi đâm ra khớp. Cái trâng tráo, nghịch ngợm cố hữu của chị tôi bay đâu mất. Mặt chị xanh như đàn bà sảo thai, lời nói khó khăn, đứt quãng như sản phụ đẻ ngược”
    (HTA - GTH).

    Nhà văn Võ Phiến viết về NTTV với những dòng đầu trong bài:

    "Đầu thập kỷ 60 - tôi không nhớ rõ năm nào - tòa soạn Bách Khoa bắt đầu nhận, thỉnh thoảng một thiên truyện ngắn của một người viết mới, thuộc phái nữ, ký tên Nguyễn Băng Lĩnh. Lúc bấy giờ các cây bút nữ giới hãy còn hiếm. Tòa soạn có ý tò mò...
    ... Người ấy về sau mang bút danh Nguyễn Thị Thụy Vũ, là tác giả cuốn sách có tên là Mèo Đêm, Lao Vào Lửa, Cho Trận Gió Kinh Thiên... Tức là thứ sách mà các thế hệ phụ nữ nước ta trước đó không mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết!” (Võ Phiến - Văn Học Miền Nam, Hoa Kỳ 1999)

    Tập truyện Mèo Đêm của NTTV xuất hiện cùng thời điểm với sự xuất hiện các cây bút nữ giới vào năm 1966. Và, “Cuốn tập truyện Mèo Đêm đã làm cho Thụy Vũ bớt rụt rè đối với văn giới. Chị dám đặt chân tới tòa soạn Bách Khoa. Trước đó chị viết bài xong, đưa cho ông Võ Phiến xem trước, và khi xem xong ông Võ Phiến đưa cho ông Lê Ngộ Châu, Tổng thư ký tòa soạn tập san Bách Khoa. khi bài vở được đăng, chính tôi đến tòa soạn nhận lãnh tiền nhuận bút dùm chị”
    (HTA - GTH).

    Từ đó, NTTV bước vào văn đàn với nhiều tác phẩm, thành lập nhà xuất bản Kim Anh với Nguyễn Thị Nhiên, Hồng Đức, Kẻ Sĩ với Tô Thùy Yên. Là một trong những tác giả thuộc phái nữ có nhiều tác phẩm đang ăn khách ở Việt Nam vào giữa thập niên 60-70 cho đến ngày đen tối trong cuộc đời cầm bút sau 30-4 - 75.

    * Tác Phẩm

    Từ cô giáo tỉnh lẻ, trình độ học vấn chẳng bao nhiêu, yêu văn chương chữ nghĩa, khởi đi từ những trang nhật ký, trong vòng mười năm (65-75), NTTV đã đi vào Văn học Việt Nam với nhiều tác phẩm:

    Tập truyện: Mèo Đêm, Lao Vào Lửa, Chiều Mênh Mông

    Truyện dài: Thú Hoang, Ngọn Pháo Bông, Khung Rêu, Như Thiên Đường Lạnh, Chiều Xuống Êm Đềm, Nhan Tàn Thắp Khuya, Cho Trận Gió Kinh Thiên... còn nhiều truyện viết feuilleton đăng trên báo chưa xuất bản. Năm 1978, nhà xuất bản Sống Mới ở Fort Smith, Arizona cho tái bản truyện dài Thú Hoang.

    Tập truyện Mèo Đêm gồm bảy truyện ngắn: Mãnh, Đợi Chuyến Đi Xa, Một Buổi Chiều, Mèo Đêm, Nắng Chiều, Bóng Mát Trên Đường, Miền Ngoại Ô Tỉnh Lẻ.

    Tập truyện Lao Vào Lửa gồm ba truyện ngắn: Chiếc Giường, Đêm Nổi Lửa, Lao Vào Lửa.

    Tập truyện Chiều Mênh Mông gồm sáu truyện ngắn: Trôi Sông, Đêm Tối Bao La, Tiếng Hát, Lìa Sông, Chiều Mênh Mông, Cây Độc Không Trái.

    Trong mười sáu truyện ngắn xuất bản năm 1966 và 1968 “đã gây ồn ào trong dư luận giới đọc sách” vì tính cách táo bạo, ngôn ngữ tả chân khi làm tình, khi tán tỉnh, không khí snack bar với rượu chè trai gái.

    Nếu viết về nỗi cô đơn của cô gái mang nhiều mặc cảm như Đợi Chuyến Đi Xa, nỗi buồn chán chường của người đàn bà ở Ngoại Ô Tỉnh Lẻ, tâm trạng cô gái trong chuyện chồng con qua Lìa Sông... chẳng có gì gây tác động sự xuất hiện ngòi bút nữ giới với giới thưởng ngoạn. NTTV viết về hình ảnh ăn chơi, đàng điếm, mồi chài, thác loạn của giới bán bar trong giai đoạn quân đội Mỹ tràn ngập ở Việt Nam. Nếu viết thực, sống động phải là người từng lăn lộn, đầy dẫy kinh nghiệm, trải qua tháng ngày trong khung cảnh đó. Ở đây lại là cô giáo tỉnh lẻ, giữ mình trong cuộc sống mô phạm phần nào nhưng đã chọn cho mình cái nhìn độc đáo để sáng tạo. NTTV nhờ dạy kèm tiếng Anh cho giới bán bar, giới làm sở Mỹ nên có cơ hội giao tiếp, tìm hiểu mặt trái của cuộc sống làm chất liệu cho ngòi bút.

    Hình ảnh Loan trong Mèo Đêm, cuộc đời bán bar của Loan như loại mèo đêm “ăn sương” với lính Mỹ. Cuộc đời cô gái vô học bước vào lầu xanh với cái tên ngoại quốc Mi-Sen, qua bao năm trong nghề với những mánh khóe điêu luyện để lột tiền lính Mỹ ăn chơi. Trong Chiếc Giường, cô gái giang hồ về chiều ế khách dùng bùa mê để có được nhiều mối ăn nằm trên thân xác nhầy nhụa.

    Lao Vào Lửa là chân dung cô nữ sinh nghèo túng, đi tìm việc trong hộp đêm, Tina chưa rành rọt với “Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề” nên bị chê, và cô gái giang hồ chẳng mấy chốc trở thành tay nghề.

    “Một tên Mỹ cao lớn, râu ria cạo nhẵn thín, nhưng vết sẹo trên râu quai nón vẫn làm tối sầm khuôn mặt hắn. Hắn nhe răng cười mơn trớn hỏi:

    - Em tên gì”

    Tôi trả lời cộc lốc:

    - Tina

    Hắn lôi tôi vào lòng rồi đặt lên bắp đùi hắn. Bàn tay hắn sờ soạng trên trên ngực và eo của tôi. Chị Năm thường nói với tôi là tụi đàn ông Âu Mỹ lông lá như con dã nhơn, mỗi ngày cạo râu hai lần thì hành sự rừng rú chịu không nổi. Tôi sợ sệt nhìn cánh tay hắn. Hắn buông thõng tay tôi tiếp tục:

    - Ngủ với tôi đi.

    Tôi đưa tay lên làm hiệu:

    - Mười nghìn nghe.

    Hắn lắc đầu:

    - Mắc lắm, cưng ơi! Nếu mười nghìn thì em phải trả tiền phòng và tiền ticket”.

    Trong Tiếng Hát và Chiều Mênh Mông mô tả hình ảnh người con gái lăn vào cuộc tình với nhục dục mạnh bạo làm khoái cảm thân xác. Vì vậy có sự phê phán về hiện tượng dồn nén gây ẩn ức sinh lý, gặp môi trường tác động làm chất liệu để bày tỏ.

    Sau ba tập truyện ngắn, NTTV cho ra đời ba truyện dài Ngọn Pháo Bông năm 1968, Thú Hoang, 1968 và Khung Rêu 1969.

    Ngọn Pháo Bông mô tả cuộc đời vũ vữ sống dưới ánh đèn màu, theo thời gian, gái làng chơi hành nghề cho Tây rồi Mỹ trải dài qua hai thập niên. Cuộc đới gái điếm lão luyện đó được kết thúc bởi tên ma cao lưu manh bắng lưỡi dao oan nghiệt.

    Tác phẩm Khung Rêu do Kẻ Sĩ xuất bản vào năm 1969. Năm 1970 Khung Rêu được giải nhì Văn Chương toàn quốc (Nhà sách Văn Nghệ ở Nam California in lại năm 2000).

    Với Giải Thương Văn Chương, tên tuổi NTTV được nhiều cây bút đề cập, trong đó có ba tác phẩm đáng kể như Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Trịnh Công Sơn, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nhật Tiến, Thế Uyên, Thế Phong, Bùi Giáng, Võ Hồng) của Tạ Tỵ. Các Nhà Văn Nữ Việt Nam 1900 - 1970 (Song An, Mộng Sơn, Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương) của Uyên Thao và Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta gồm 45 cây bút từ 1954 đến 1973 do Nguyễn Đông Ngạc, chủ trương nhà xuất bản Sóng, thực hiện vào năm 1974 đưa tên tuổi NTTV sáng giá. Truyện ngắn Lòng Trần cùng với hình ảnh NTTV qua ống kính của Trần Cao Lĩnh hiện diện trong tuyển tập nầy.

    Khung Rêu ghi lại hình ảnh nơi quê mà trong phần tựa, NTTV viết:

    “Từ hồi nhỏ, tôi phải chịu đựng mốt ám ảnh thường xuyên: sự suy sụp bệ rạc của một gia đình thịnh mãn ở miền Nam. Nguyên nhân chính của sự suy sụp bệ rạc nầy thì ai cũng biết: chiến tranh... Khi khởi công viết quyển truyện nầy, tôi đặt trước cho mình một chủ định: ghi lại cái ám ảnh từ thuở nhỏ dại đó của tôi, trong ước vọng, một lần nữa, giải tỏa nó cho xong”.

    Bối cảnh câu chuyện xoay quanh gia đình ông Phủ, điền chủ, quan lại, giai đoạn về hưu. Nhìn bề ngoài gia đình giàu sang nhưng bên trong từ ông Phủ đến con cái chẳng ra gì, con trai có đứa thì chơi bời trụy lạc, đứa thì dốt nát, con gái có đứa thì lăng loàng, đứa thì thất tình hóa điên, đứa thì ái nam ái nữ. Ông Phủ lắm vợ nhưng đầu óc đầy nhục dục, hãm hiếp người làm trong nhà tuổi bằng con cái... tạo ra thảm kịch, băng hoại của gia đình đến thời suy sụp.

    Cho Trận Gió Kinh Thiên đề cập đến bi kịch trong đời sống vợ chồng, ông ăn chả thì bà ăn nem, mà khi nàng lao mình vào cuộc tình mới để trả thù chồng, bỏ quê về sống nơi đô hội như lao mình vào cơn gió bụi bên cạnh hình ảnh cờ bạc, đĩ điếm.

    NTTV dám viết với ngôn từ, suy nghĩ của giới giang hồ, hình ảnh, động tác lẫn cảm giác của trai gái khi “lâm trận” mà trước đó chưa có nhà văn nữ nào đề cập. Túy Hồng, khuôn mặt đất thần kinh, tiếp nhận ngòi bút của Francoise Sagan trong nếp sống hiện sinh, tác động xác thịt rung động được mô tả đã ảnh hưởng vào cái nhìn của Thụy Vũ. Và, khi kề cận với giới sống gần gủi mấy chàng G.I, khai thác được nhiều khía cạnh mà cây bút nữ khác không có chất liệu để sáng tác. NTTV biết táo bạo động tác ái ân như: “làm đùng đùng như cù dậy”, “làm đùng đùng như con cá sấu đập đuôi bánh lái ghe chài”, hay chủi bới nhau bằng ngôn ngữ thô tục như: “Tam đại tứ đại, cao tằng cố tổ con đĩ mụ nội nó”, “Mầy là con đĩ ăn cám uống hèm nên ngu si đần độn”... (Cho Trận Gió Kinh Thiên) nên bị phê phán như ngòi bút khiêu dâm.

    Quan niệm về sáng tác theo NTTV:

    “Tôi thích truyện ngắn không có cốt truyện mà đầy nhiều chi tiết soi sáng thái độ lẫn quan niệm của tác giả đối với văn chương và cuộc đời. Trong ba tập truyện: Mèo Đêm, Lao Vào Lửa, Chiều Mênh Mông, hầu hết các truyện ngắn đều có cốt truyện hẳn hoi, nên tôi không được vừa ý lắm. Bởi vậy, đã từ lâu, tôi không viết truyện ngắn nào nữa, mà chỉ cắt xén vài đoạn trong truyện dài để làm truyện ngắn đăng báo mà thôi”
    (NĐN - NTNHNCQHCT).

    Nhận định về truyện ngắn, theo Tạ Tỵ:

    “Thụy vũ viết truyện ngắn với nhiều thể tài, mỗi thể tài được hàm chứa sự cuồng nhiệt của tuổi trẻ trong vấn đề tình yêu, cũng như nỗinhức mỏi về thân phận, thân phận người con gái với những ước mơ táo bạo về dục tình”
    (TT - MKMVNHN).




    Nguyễn Thị Thụy Vũ sau năm 1975


    * Dòng Đời

    Nhà văn Văn Quang, tác giả nhiều tác phẩm xuất hiện vào thập niên 50 - 70 như Thùy Dương Trang, Nghìn Năm Mây Bay, Nguyệt Áo Đỏ, Chân Trời Tím, Đời Chưa Trang Điểm, Nét Môi Cuồng Vọng, Người Yêu Của Lính, Vì Sao Cô Độc, Tiếng Hát Học Trò... gần đây với truyện dài Ngã Tư Hoàng Hôn, Bắt Tay Tử Thần… và Một Người Đàn Bà, Nhiều Người Đàn Ông trên nhật báo Người Việt vào đầu năm 2000, vừa gởi ra hải ngoại bài viết về con gái của bạn văn. Câu chuyện về con gái của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ: "Người Con Gái 27 Năm Sống Với Đời Sống Thực Vật" của Văn Quang đã gây xúc động nhiều người.



    Sau biến cố thang thương năm 1975 hai mươi lăm năm, tên tuổi NTTV đã phôi pha theo thời gian, hình như tác phẩm của Thụy Vũ xa lạ ở hải ngoại. Con người sống giữa lằn ranh Quốc - Cộng đó không còn cầm bút để bày tỏ, đôi khi chấp nhận sự ngộ nhận như oan khiên của cuộc đời.

    Vào đầu thập niên 90, đọc ký sự Giai Thoại Hồng của Hồ Trường An, tôi nhớ lại kỷ niệm xưa khi đề cập đến ngôi nhà người thân trong gia đình anh.

    “Vào năm 1961, gia đình của cô Phương Đài tôi còn ở trong căn một căn nhỏ hẹp ở dãy đông lang của Thánh thất Từ Vân, đường Nguyễn Huệ, Phú Nhuận. Thánh thất thuộc bổn đạo Cao Đài ở gần chùa Quán Thế Âm, chùa do cố Hòa thượng Thích Quảng Đức trụ trì (còn gọi là chùa Mạch Lô) cùng tọa lạc trên đường Nguyễn Huệ. Dãy đông lang nầy vách ván, mái lợp ngói âm dương... Cảnh trí nơi đây rất thơ mộng. Trước dãy đông lang có trồng ba cây điệp ta, những khóm dạ lan, những bụi bông trang dệt gấm đỏ, hường, vàng”.

    Vài năm sau, vợ chồng Phương Đài cất ngôi nhà khá xinh phía sau dãy đông lang đó, ở chung với thân mẫu. Trong dãy đông lang đó, vợ chồng Trần Quân - Xuân Hoàng ở một căn, căn bên cạnh, bạn tôi được thuê với giá rẻ để ăn học. Thuở đó sinh viên vào Sài Gòn, đồng hương với cụ Song Thu và chị Phương Đài, được anh Tường Linh giới thiệu, có chỗ ở rất tốt cho việc học hành, muốn dạy kèm được cụ gởi gắm. Có thời gian về ở chung với người bạn nên có dip gần gũi gia đình Phương Đài. Cư xử với nhau rất tình nghĩa và tử tế, chưa bao giờ nghe luận điệu tuyên truyền nào cả. Có lần nhà thơ nầy gợi ý với tôi, Thùy Dương Tử cần bài khảo cứu cho tờ An Lạc số cuối năm, có tính cách quê hương, tôi viết bài Thực Trạng Xã Hội Trong Thi Ca Trần Tế Xương.

    Cuối năm 1966 tôi vào quân ngũ, quên chuyện bài vở, sau đó bạn tôi lên Thủ Đức thăm với chút quà và tiền nhuận bút hai nghìn, tương đương với ba tháng tiền nhà ở đó, hai đứa cưa đôi. Tôi không ngờ chuyện nhờ bài vở, tôi trả lễ, khi đi xa, giữ được chữ tín... Vào đầu thập niên 70, khi ở đơn vị, nghe tin khoảng mười người trong giới văn nghệ lần lượt bị bắt, trong đó có Tường Linh, Phương Đài... vài người quen nữa mà trước kia thấy họ thường lui tới thăm hỏi với nhau. Đâu ngờ vài khuôn mặt đồng hương đã quý mến lại nằm vùng hoạt động cho địch! Thảo nào lúc đó Vũ Hạnh thường lui tới, tập thơ Đất Mẹ của Phương Đài ra đời năm 1967, Vũ Hạnh đề tựa. Giai đoạn Lữ Phương, Nguyễn Ngọc Lương, Vũ Hạnh ra đời tờ Tin Văn tạo môi trường giao thiệp cho những người trong cuộc nằm vùng có cơ hội sinh hoạt, giao tiếp. Khuôn mặt nầy tôi đã đề cập trong bài Vũ Hạnh, Kẻ Hoạt Đầu Văn Hóa trên Saigon Times và Thời Mới vào cuối tháng 12 -1991.

    Giữa lằn ranh Quốc - Cộng trong gia đình NTTV thuở đó:

    “Bà Song Thu, ba tôi, cô Phương Đài, dượng Trần Quân đều ngả theo phe tả... Tô Thùy Yên thuở đó chống Cộng có lập trường. Còn Thụy Vũ và tôi cứ lửng lơ con cá vàng giữa hai chủ nghĩa”
    (HTA - GTH).

    Sau năm 1975 Mặc Khải chẳng có chỗ đứng nào trong sinh hoạt văn nghệ, ông chết năm 1982. Khi chiêu bài đã lộ hình, nhìn lại để suy nghiệm bài học trong văn giới.

    Trong tác phẩm Cõi Ký Ức Trăng Xanh, Hồ Trường An có đề cập đến tình duyên lận đận của NTTV với chàng Hải quân khi ở Vĩnh Long. Năm 1964, NTTV gặp Tô Thùy Yên trong bữa tiệc ăn mừng của Thanh Tâm Tuyền nhân dịp đoạt giải thưởng Văn Chương toàn quốc. Tô Thùy Yên đã có gia đình, NTTV cuộc tình tan vỡ, có đứa con riêng.

    “Thế là từ đó Tô Thùy Yên không rời Thụy Vũ nữa. Khi chung sống với nhau, Tô Thùy Yên nhận thấy Thụy Vũ quê quê, vulgaire thế nào, anh muốn biến chị tôi thành người đàn bà phong nhã, lịch lãm”
    (HTA - GTH).




    Tô Thùy Yên

    Căn gác của đôi tình nhân nhà thơ, nhà văn qua bài viết Lịch Sử Văn Học Qua Ống Kính của Trần Công Nhung khi thực hiện chân dung văn nhà văn bằng hình ảnh:

    “Tôi nhớ mang máng thì dạo đó nhà của Tô - Thụy cũng không xa nhà cụ Vũ Hoàng Chương, đâu lối Bàn Cờ, bởi cũng vào hẽm quanh co. Lúc nhận ra số nhà, tôi thấy ngay người đàn bà đang ẵm một cháu bé trạc 2 tuổi đang đứng nơi bậc cửa... Khuôn mặt chị luôn luôn tươi, mước da không trắng lắm nhưng đẹp và phảng phất nét cổ điển... Căn nhà tối quá, con hẽm thì hẹp... Bởi chu vi căn nhà không rộng nên cái cầu thang cũng quá hẹp. Đi phải nghiêng người mới vừa. Tôi chậm chạp từng bước vừa cúi nhìn chân sợ lỡ trượt một cái là hỏng hết. Vừa ló đầu qua khỏi cửa thang gác thì một cảnh tượng bất ngờ đập vào mắt, khiến tôi vừa mắc cở, vừa buồn cười. Căn gác trống trơn, ở góc bên trái có cái rương gỗ cũ bằng chiếc bàn con. Ngang tầm mắt, căng hai sợi giây kẽm phơi đầy những thứ riêng tư của nữ giới... Tôi nghe như có tiếng cười khe khẽ sau lưng. Làm như không hay biết gì tôi ngồi quì xuống sàn gác, đặt xách máy lên chiếc rương gỗ giả vờ sửa soạn đồ lề để chị có thời giờ thu dọn chiến trường. Chừng một lúc, tôi đứng lên thì tất cả cờ quạt đã dồn về một phía. Chiếc cửa sổ duy nhất được mở ra, căn phòng sáng hơn... ánh sáng bán âm bán dương rất hợp với khuôn mặt của chị. Chưa đầy năm phút là xong, tôi xin cáo lui”.

    Trong căn gác nghèo nàn đó NTTV đã cho ra đời nhiều tác phẩm được hình thành trên cái rương gỗ làm bàn. Giữa năm 1972 khi làng Báo Chí Thủ Đức được hoàn thành, NTTV là một trong chín người đầu tiên có nơi chốn khang trang giữa nơi qui tụ văn nghệ sĩ.

    Tháng 6 - 1975 Tô Thùy Yên trình diện trong số 24 nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhạc sĩ quân đội, và trải qua nhiều năm trong lao tù.

    “Sau ngày 30 - 4 - 75, chị tôi đem lũ con lên Lộc Ninh để làm rẫy. Nhưng vì tôi kỳ kèo nên chị phải về Sàigòn để học khóa Bồi Dưỡng Chính Trị vào năm 1976 do bọn cán bộ văn nghệ cộng sản tổ chức... Qua màn tự phê tự kiểm, Thụy Vũ mệt lả người, trong khi đó chị Nguyễn Thị Vinh, chị Trần Thị Tuệ Mai vây chung quanh chị, mắt chị nào cũng nhòa lệ; cái thân phận làm kẻ bại trận thật nhục nhã, ê chề”
    (HTA - GTH).

    Là nữ lưu nhưng NTTV không cúi mình kể lể, lấy công như vài "văn nhân" khác để được chỗ đứng, khoan hồng.

    An phận thủ thường, nuôi bốn đứa con thơ, trong đó có bé Khôi Thụy bị thương tật nằm liệt trên giường, theo chuyện kể của BBH, bạn văn với NTTV, lúc đó bác sĩ bảo rằng Khôi Thụy khó sống trong hoàn cảnh nầy, giải quyết cho cháu yên nghĩ nhưng tình mẫu tử của NTTV không thể chấp nhận, sống chết bên nhau cho dù đắm chìm trong nghiệt ngã. Theo hồ sơ bệnh lý của bệnh viện Chợ Rẫy và Hội đồng Y Khoa năm 1982: “Khôi Thụy chậm phát triển và tâm thần mức độ nặng”, trên thực tế thì tình trạng còn nguy kịch hơn nhiều.




    Từ trái sang phải: Bà Ngân (vợ Văn Quang) và Thụy Vũ
    (Ảnh chụp năm 2010)

    Qua một phần tư thế kỷ NTTV sống lặng lẽ với bao nỗi đau thương trong cuộc đời nơi góc chốn ở quê nhà. Hai mươi lăm năm người mẹ gắn bó bên đứa con tật nguyền qua chứng nhân của người bạn văn:

    "Trong căn phòng nhỏ hẹp, trên chiếc giường lạt tre thưa thớt, một thân hình con gái trắng nhễ nhại với chiếc quần cụt, chiếc áo thun ngắn tay nằm ngay đơ trên chiếc chiếu chỉ trải có nửa giường. Bởi đó là nơi cháu vừa ăn ở, vừa đi vệ sinh, vừa làm chỗ tắm... Cháu không hề biết mình sống hay chết, không biết đói no, không biết gì hết ngoài hơi thở của con người”
    (Văn Quang).

    Hình ảnh thương tâm của cháu Khôi Thụy làm bằng hữu phương xa nghĩ lại thân phận nhà văn NTTV ở quê hương. Văn Quang cho tôi biết Thái Thủy và Phan Ngọc Diên sắp cho tái bản hai tác phẩm Mèo Đêm và Khung Rêu của NTTV.

    Trong truyện ngắn Đêm Tối Bao La, NTTV viết về hình ảnh người đàn bà:

    “Sau vài cuộc tình phất phơ, bây giờ tôi mệt mỏi thật sự. Tôi bất chấp dư luận để sống mà rồi vẫn cô đơn... Chàng nhạt nhẽo quá. Tôi lại mơ cao để rồi số tuổi càng ngày chồng chất theo nỗi chán chường”.

    Cầm bút, đôi khi cảm nhận điều gì đó đến với mình qua từng nhân vật có khi rơi vào trường hợp bản thân đến tuổi cuối đời.

    Vương Trùng Dương
    Little Saigon, Tháng 5-2000
    Viết lại Tháng 9-2014 (bổ túc thêm đoạn NTTV nói về thân phụ với Đỗ Tăng Bí)
    Posted by
    NGUYỆT-SAN VIỆT-NAM

  4. Thanks twelve thanked for this post
  5. #3
    Join Date
    Oct 10th 2013
    Posts
    1,484
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    222

    Default Đôi nét về nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ

    .

    Đôi nét về nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ



    Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, tên thật là Nguyễn Băng Lĩnh, sinh năm 1937 tại Vĩnh Long. “Băng” là băng giá, băng tuyết; “lĩnh” là ngọn núi cao; “băng lĩnh” là ngọn núi cao quanh năm băng giá. Nhưng văn chương của chị Thụy Vũ thì chẳng băng giá một tí nào mà nó sinh động, hấp dẫn, hết sức tự nhiên, gần như… hơi can đảm vì dám nói thẳng ra những gì mình nghĩ, không sợ phái nữ phiền lòng.

    Đây, chúng ta hãy coi thử những câu chị viết trong truyện ngắn “Lìa sông”:

    “Em lo lắng lắm, không muốn dạy ở đây lâu hơn. Lật bật rồi đây học trò cũ có cháu nội cháu ngoại, mình phải làm bà cố bà cốc thì còn gì là đời em nữa. Nước mắm càng để lâu càng ngon, con gái để lâu như hũ mắm treo đầu giường, mà lại treo bằng loại chỉ rút ở thân cây chuối bẹ thơm thì thảm ghê gớm lắm! Nhiều khi nghĩ ngợi xa xôi, em ngáp ồn ào, chán đời nhưng không có can đảm cắt tóc đi tu”.

    Ngay đến phái nam chị cũng chẳng tha:

    “Vào một buổi sáng, ông Trưởng ty chợt nhớ tới trường tụi em đã lọt sổ nhiều năm nay. Ổng dùng xuồng máy cùng ông Thanh tra rẽ nước lướt sóng mấy giờ đồng hồ mới tới nơi. Còn cách trường chừng một trăm mét, ông Trưởng ty muốn gặp quả tang cách làm việc và tác phong của bọn thầy giáo, cô giáo ở xa Ty, bèn đề nghị ông Thanh tra tắt máy ho-bo, dùng dầm bơi vô để không gây tiếng động. Hai ông có dáng dấp khác nhau. Ông Trưởng ty ốm như cây tre miễu, ông Thanh tra có vẻ xổ sữa hơn. Hai ông cột ho-bo cách chừng mười thước, đổ bộ lên núp sau hè lớp giống như cặp hề, chú ốm chú mập, Laurel và Hardy trong phim chọc cười. Ông Hiệu trưởng vẫn thản nhiên nằm lim dim trên võng phơi bụng, thịt da chảy nhì nhùng. Mùi rượu đế nặc nồng tỏa một góc lớp. Hai ông nhìn nhau thì thầm điều gì không rõ. Ông Hiệu trưởng ngỡ là mấy đứa học trò lớp nào đi tiểu ngoài hè. Ông tằng hắng một tiếng cho hạ đàm rồi nhiếc:

    “Quân nào rình mò ngoài vách đó? Tao bận xà-rông chớ chưa ở truồng mà!”.

    Hai ông bèn qua lớp khác thì thầy giáo đã đi đánh bài đâu mất, bỏ lũ học trò nhốn nháo như đàn vịt. Thua buồn, hai ông xuống ho-bo ra về. May quá, hôm đó các ông tới muộn, em đã ăn sáng xong, lá tẩy em chưa bị lật!”.

    Thật, hết chỗ nói và… hơi tức cười!

    Năm 28 tuổi, chán không muốn làm cô giáo làng và không chịu nổi không khí bí bách, ngột ngạt ở nơi tỉnh nhỏ, Thụy Vũ bỏ Vĩnh Long tìm lên Sài Gòn để sống và viết. Khởi nghiệp từ năm 1965, chị viết truyện ngắn gửi đăng trên các tạp chí văn nghệ và nhanh chóng được chú ý nhờ lối viết sắc sảo, mạnh bạo, có duyên, nhất là với các đề tài riêng biệt khác hẳn các cây viết nữ cùng thời lúc đó. Chị viết về giới bán phấn buôn hương, các cô gái “snack bar”, các me Mỹ và các chuyện phá thai, những giấc mơ bị cưỡng hiếp, những người đàn bà bán trôn nuôi miệng nhưng luôn luôn sợ hãi một ngày nào đó mông teo ngực nhão không còn kiếm ra tiền, đói nghèo sẽ tới, bệnh hoạn sẽ cướp đi cuộc sống. Những đề tài này không lạ đối với các tác giả phái nam nhưng lại do một cây bút phái nữ đề cập, đó là chuyện lạ. Tại Sài Gòn, chị thuê một căn nhà mái tôn, vách ván, nằm trong một xóm lao động nghèo ở phía đối diện với chợ Đũi, quận 3, gần Tòa đại sứ Miên ở chỗ ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng (nay là đường Cách Mạng Tháng 8 và Nguyễn Đình Chiểu, gần rạp ciné Nam Quang).

    Cách Tòa Đại sứ Miên một khoảng có đình Phú Thạnh và phía sau ngôi đình ấy là “thế giới” của các cư dân nghèo, của những cảnh đời sa đọa, đầy rẫy đĩ điếm, ma cô, hút xách, rượu chè, cờ bạc, v.v… Thụy Vũ viết lách và làm thêm nghề dạy tiếng Anh cho các me Mỹ, các cô gái bán ba trong khu lao động đó. Cũng chính nhờ những sự tiếp xúc này, chị biết được nhiều chuyện do họ tỉ tê kể lại, làm chất liệu cho những tác phẩm cả truyện dài lẫn truyện ngắn chị viết về sau. Chúng ta thử xem chị mô tả một đoạn lúc đến dạy Anh văn cho mụ gái điếm đã gần tàn xuân sắc mang tên Mi-sen (Michèle). Từ thuở nhỏ Mi-sen chưa từng biết chữ, kể cả chữ Việt, nay vì nhu cầu giao dịch với ngoại kiều, bắt buộc nàng phải học. Cái tên Michèle do người khác đặt cho, nàng cũng không biết phải viết ra sao, mỗi lần lên quận làm giấy tờ, thay vì ký, Mi-sen đánh dấu chữ thập.

    “… Hôm nay như thường lệ, tôi đến dạy Mi-sen vào những buổi trưa nắng gắt. Vào giờ này cánh cửa sắt trước nhà đã được chị Tư mở sẵn. Tôi cứ việc ung dung dẫn xe đạp vào và tự tay đóng cửa lại, không phải gọi chuông inh ỏi nữa. Đi ngang qua phòng khách tôi rẽ tấm màn quẹo qua buồng ngủ Mi-sen, rồi gõ nhẹ cửa.

    “Cô giáo đó hả, vô đi.”

    Tôi đẩy cửa bước vào, rồi bất chợt dừng lại. Mi-sen cười ngặt ngoẹo:

    “Vào đi cưng. Chờ chị làm massage một chút nghen.”

    Tôi tìm chiếc ghế ngồi cạnh giường, Mi-sen pha trò:

    “Cô giáo hôm nay bắt gặp học trò trần truồng như nhộng. Chỗ đàn bà với nhau cả phải không cô.”

    Bây giờ tôi được dịp quan sát Mi-sen kỹ hơn. Nàng nằm trên một chiếc khăn lông màu hồng trải trên tấm nệm mút phủ “ra” trắng. Bà làm massage quỳ hai gối xuống nệm, hai bàn tay thoăn thoắt trên các bắp thịt mông và lưng nàng. Mồ hôi rịn ướt trên đôi tay gân guốc của bà. Mắt Mi-sen lim dim, dáng điệu nàng như con mèo sưởi nắng một cách khoan khoái. Lúc nào nhìn người đàn bà khỏa thân tôi cũng có một cảm giác lạnh lẽo và tê tái như nhìn một bức tranh tĩnh vật với màu sắc hết sức ảm đạm. Riêng đối với Mi-sen, tôi nghĩ rằng tấm thân nõn nà, với làn da mịn màng đó, có cái gì mong manh. Tuổi già đã gần kề nàng. Chẳng bao lâu nữa, những bắp thịt thon đẹp kia sẽ nở bung ra, bụng sẽ nhão nhoẹt. Nghĩ tới giai đoạn đó, tôi cảm thấy buồn hơn là ganh tị…”
    (trích “Đợi chuyến đi xa”, trong tập truyện ngắn “Mèo đêm”)

    Từ khi rời Vĩnh Long lên Sài Gòn cho tới 30/4/1975, Thụy Vũ đã viết được 10 tác phẩm, trong đó có 7 truyện dài và 3 tập truyện ngắn.

    7 truyện dài gồm: Ngọn Pháo Bông, Thú Hoang, Khung Rêu (đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1971), Như Thiên Đường Lạnh, Nhang Tàn Thắp Khuya, Chiều Xuống Êm Đềm, Cho Trận Gió Kinh Thiên.

    3 tập truyện ngắn gồm: 1.Mèo Đêm (gồm 6 truyện: “Một Buổi Chiều”, “Đợi Chuyến Đi Xa”, “Mèo Đêm”, “Nắng Chiều Vàng”, “Bóng Mát Trên Đường” và “Miền Ngoại Ô Tình Lẻ”);

    2.Lao Vào Lửa (gồm 3 truyện: “Chiếc Giường”, “Lao Vào Lửa”, “Đêm Nổi Lửa” – Truyện “Chiếc Giường” và truyện “Lao Vào Lửa” lấy bối cảnh tại một snack bar ở Sài Gòn. Còn truyện “Đêm Nổi Lửa” lấy bối cảnh ở nhà thương khám bệnh hoa liễu mà thời đó thường gọi là Nhà Thương Bạc Hà);

    3.Chiều Mênh Mông (gồm 6 truyện: “Chiều Mênh Mông”, “Tiếng Hát”, “Lìa Sông”, “Cây Độc Không Trái”, “Trôi Sông” và “Đêm Tối Bao La”).

    Chúng ta thử điểm qua các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã xuất bản. Trước hết là 7 truyện dài của chị:

    1. Thú Hoang: Mô tả thế giới nữ sinh trong một trường công lập tại tỉnh nhỏ. Ba nhân vật nữ chính, cô thứ ba bị tên nam sinh trường khác cưỡng dâm. Cô thứ hai dan díu với tên nam sinh sở khanh, có thai và phải đi phá thai. Còn cô thứ nhất xưng tôi, vì chán không khí tù túng nơi tỉnh lỵ cố hương nên bỏ nhà lên Sài Gòn với hy vọng có cuộc đời mới. Nhưng trên chuyến xe đò, cô gặp một tên nam sinh sở khanh và cảm thấy mềm lòng trước sự ve vãn của hắn. Tới đây tác giả chấm dứt câu chuyện, không ai biết sự đam mê sẽ đưa cô tới đâu.

    2. Ngọn Pháo Bông: Mô tả tâm trạng của một cô gái buôn hương bán phấn về chiều nhưng vẫn còn hấp dẫn đối với mấy anh lính Mỹ trẻ trung. Cô kiếm ra tiền song lại thích bọn trai trong nước và bị chúng bòn rút, kiếm tiền của cô. Cuối cùng, cô bị đâm chết trong căn apartment mà nhà chức trách không sao tìm ra thủ phạm.

    3. Như Thiên Đường Lạnh: Mô tả đời sống của cặp vợ chồng định cư trên cù lao sông Cổ Chiên gần chợ Vĩnh Long. Chồng là thầy giáo tiểu học, không hẳn là người ham thú vui tửu sắc nhưng chán cảnh sống vô vị ngày nào cũng lặp đi lặp lại không hề thay đổi. Vợ là người đàn bà nóng nảy, hỗn hào, tính hay ghen tuông nhưng rất mực đảm đang và một lòng một dạ thương yêu chồng. Người chồng chán sống, chán sự ngưng đọng ở nơi nửa quê nửa tỉnh song vì tinh thần yếu đuối, không có tài năng nên cuối cùng vẫn giữ nghề gõ đầu trẻ với sự uể oải không có niềm vui đó.

    4. Nhang Tàn Thắp Khuya: Đây là câu chuyện về một người vợ mực thước, gánh vác giang sơn nhà chồng mà chồng là một “đại gia” thuộc hạng giàu có. Bất ngờ, một người bạn của chồng hiện diện. Y hiền lành, ít nói, tính tình thụ động, trái hẳn sự vững chắc, mạnh mẽ của chồng. Người vợ vốn rất bao dung và hay mềm lòng đối với kẻ yếu đuối. Nàng không ngờ từ sự thông cảm của mình, dần dần làm nàng lún sâu vào tình yêu. Người bạn của chồng và nàng đều thầm hiểu rằng họ đã yêu nhau, người bạn hăm hở tiến tới, còn người vợ vì lễ giáo nên chỉ đau khổ trốn vào bổn phận vợ hiền. Song song với tình yêu chồng, người vợ có một niềm bí mật ngàn lần lộng lẫy nàng vẫn cất giấu trong kho tàng kỷ niệm của riêng mình.

    5. Chiều Xuống Êm Đềm: Truyện xảy ra vào thập niên cuối của thế kỷ 19. Cặp vợ chồng già trưởng giả ở làng Đạo Thạnh tỉnh Mỹ Tho, sống cô đơn, nương tựa vào nhau. Ngày xa xưa, khi còn nhỏ tuổi, người chồng đã từng chứng kiến người cô ruột của mình hãy còn là một xử nữ, trong chuyến hải trình từ Huế vào Nam Kỳ, đi thuyền, gặp sóng to gió lớn, chủ thuyền và bọn hành khách mê tín đã nhẫn tâm liệng người cô ấy xuống biển cho Long Vương làm vợ bé để cầu biển lặng sóng êm.

    Khi cậu bé lớn lên, cậu cưới một thiếu nữ thuộc họ hàng thân thích của Tả quân Lê Văn Duyệt. Nhưng sau khi Tả quân qua đời, Lê Văn Khôi, con nuôi của Tả quân, làm loan nên bị triều đình tiêu diệt và cả họ hàng của Tả quân bị liên lụy, bị xử chém theo án tru di tam tộc. Người vợ họ Lê dùng bột tỳ sương tự vận để khỏi bị lôi ra pháp trường xử trảm. Thời gian trôi qua, ít lâu sau người chồng tục huyền với một thiếu nữ khác. Dù được người vợ sau yêu thương và tận tụy săn sóc, nhưng hai vết thương lòng–cái chết của người cô ruột trên thuyền và người vợ cũ tự vận–không thể nào tàn phai trong tâm trí người chồng khốn khổ đó.

    Người vợ sau chỉ sinh được hai cô con gái. Cả hai đều xinh đẹp, hiếu hạnh và lấy chồng có địa vị cao sang trong xã hội, làm vẻ vang cho cha mẹ. Rồi các cô lần lượt theo chồng. Dưới mái nhà âm u, cổ kính chỉ còn đôi vợ chồng già. Đây là lúc lão ông sống với dĩ vãng đau thương, còn lão bà thì lúc nào cũng lo sợ cái chết sẽ cướp đi một trong hai vợ chồng, người ở lại sẽ phải chịu cảnh lẻ loi trong buổi hoàng hôn của cuộc đời…

    6. Cho Trận Gió Kinh Thiên: Đây là một xã hội thu nhỏ của xóm lao động ở gần chợ Đũi và bót cảnh sát Quận 3, cùng bên với Tòa Đại sứ Miên trước năm 1975 (nay là trụ sở UBND Quận 3). Ở đấy có đình Phú Thạnh. Khu phía sau đình là xóm có nhà chứa điếm, có quán nhậu, có sòng bài, có chỗ hút á phiện… Trong khung cảnh bệ rạc “tứ đổ tường” ấy, chỉ trừ hai nhân vật chính có ăn học là đôi tình nhân Đồng và Nguyệt, còn thì toàn là thứ đá cá lăn dưa, chằng ăn trăn quấn. Gặp thời buổi lính Mỹ đổ qua Việt Nam tham chiến, đàn bà con gái trong khu đua nhau lấy Mỹ, ngoại tình, bài bạc…

    Thậm chí, một bà mẹ trong căn gác xép, ngồi niệm Phật thì cô con gái lợi dụng đêm tối, chỗ khuất cột đèn, đem tình nhân về hì hục làm tình ở ngoài bao lơn khiến bà than trời như bọng:

    “Mèn ơi, mỗi khi mình mở miệng niệm Phật thì ở ngoải tụi nó làm đùng đùng như cù dậy”.

    Lại có chuyện đôi vợ chồng già, chỉ còn sống chung với nhau vì nghĩa, hết còn vì tình. Ông chồng đau ốm dây dưa làm phiền bà vợ trong khi bà rất mê bài bạc. Lúc ông hấp hối, đứa cháu đến sòng tứ sắc báo tin, bà nhứt định đánh cho tới “đứt chến” mới về nhà lo ma chay. Bà già này có đứa em gái vừa câm vừa điếc, vậy mà không hiểu sao cũng có tên đàn ông nào đó “gieo giống” khiến y thị có thai, lần lượt đẻ hai đứa con cho chị mình nuôi. Đến khi y thị lăn đùng ra chết, bà già mê bài bạc vẫn tiếp tục đánh tứ sắc trong khi xác đứa em gái còn nằm trên gác chưa tẩn liệm…

    7. Khung Rêu: Truyện này được Giải thưởng Văn học toàn quốc năm 1971, lấy thời điểm là khoảng năm 1945, từ thời Pháp thuộc chuyển sang thời kỳ “cách mạng” của Việt Minh. Gia đình ông Phủ – một vị quan lại quyền cao chức trọng dưới thời Pháp thuộc đã về hưu (không nói rõ ông Phủ tên gì) – rất nhiều ruộng đất và quyền lực đối với tá điền, nay đã khánh kiệt do tình thế nhiễu nhương, không thu được lúa ruộng nhưng vẫn giữ nếp sống phong kiến đầy rẫy bê bối của một gia đình giàu có, quan lại. Ông Phủ đã lớn tuổi, cưỡng dâm cô người hầu mơn mởn tên Ngà, khiến cô này có thai. Bà Phủ tức giận, dọn ra ở riêng và sống như người tu hành, không thèm nhìn mặt ông Phủ nữa.

    Rồi Canh, gã trưởng nam ngỗ nghịch, chỉ muốn cha mình sớm chia gia tài cho mình để được ăn chơi phung phí. Rồi Thụ, người thứ nam tương đối có cá tính rõ rệt, rất hưởng ứng phong trào “cách mạng”, vào chiến khu theo Việt Minh nhưng chẳng làm nên trò trống gì. Rồi Tịnh, cô cháu gái gọi ông Phủ bằng cậu, yêu Hoàng – chàng nam sinh ở trọ ăn cơm tháng có tài chơi đàn. Hai người yêu nhau tha thiết nhưng bị ông Phủ cấm đoán, họ bỏ nhà, trốn đi xây dựng tổ ấm được ít lâu, sau đó vì nghèo túng, không biết làm gì để sống nên lại phải trở về.

    Ông Phủ đuổi Hoàng không cho ở nữa. Tịnh nhớ người yêu, phát điên rồi chết trong Dưỡng trí viện Biên Hòa…, câu chuyện cứ thế tiếp diễn. Cuối cùng, ông Phủ mất về bệnh đau tim. Rồi bà Phủ cũng mất, cái “khung rêu” đó mục nát, ly tán, những người còn lại sống chẳng ra sao…

    Có lẽ tác phẩm nói trên dựa vào phần lớn sự thực nên trong phần “Thay Lời Tựa”, tác giả trần tình:

    “Từ hồi còn nhỏ tôi đã phải chịu đựng một ám ảnh thường xuyên: sự suy sụp bệ rạc của một gia đình thịnh mãn ở miền Nam. (Cái thịnh mãn của hạng điền chủ ở miền Nam trước đây). Nguyên nhân chánh của sự suy sụp bệ rạc này thì ai cũng biết: chiến tranh. Một cuộc chiến tranh dằng dai hai mươi lăm năm, khoảng thời gian gần bằng số tuổi của tôi.

    Tôi sanh ra và lớn lên trong một dòng dõi đã đến hồi ly tán. Cái họ của tôi gồm hai chữ có gạch nối có thể sẽ gợi lên những cảnh sống huy hoàng, vương giả của một thành phần xã hội trong trí nhớ ao tù của những ông già bà lão, những cảnh sống mà tôi chỉ nghe kể lại như một chuyện hoang đường trong những lần giỗ chạp.

    Bây giờ chỉ còn lại một ngôi nhà thừa tự, cột kèo chạm trổ tinh vi đã mục rệu, và chẳng bao giờ lành những vết thẹo của chiến tranh; những điền sản cò bay thẳng cánh chỉ biết đến qua một đống bằng khoán vô dụng mà giấy đã ố vàng và giòn tan, một đám bà con xa gần chi chít, nhỏ nhen ích kỷ như sò hến và hoàn toàn vô tích sự.

    Tâm lý của hạng người này khá đặc biệt. Đó là những thằng chồng trôi dạt lềnh bềnh trên dòng sông hung tợn, một hạng người khư khư ôm lấy cái quá vãng vàng son (nát dậu cũng còn bờ tre), dở thầy dở thợ dở cu ly, bất lực trước sự biến đổi nhãn tiền của cảnh ngộ, bấu víu vào nhau mà sống sót. Trong ngôi nhà thừa tự đó, mỗi người là một hòn đảo của những thói hư tật xấu… Có phải con người một khi đã mất thăng bằng trong cuộc sống vật chất thường để lộ ra rõ rệt hơn bao giờ hết những xấu xa tàn tệ của mình? Và một giai cấp cũng vậy.

    Khi khởi công quyển truyện này, tôi đặt trước cho tôi một chủ định: ghi lại cái ám ảnh từ thời nhỏ dại đó của tôi, trong ước vọng, một lần nữa, giải tỏa nó cho xong.

    Lẽ hiển nhiên, tôi không hề có ý định làm công việc của nhà xã hội học hay của nhà đạo đức học. Những công việc này vượt quá sức của tôi. Vả lại, chúng cũng chẳng lợi lộc gì cho tôi.

    Tôi cũng không có ý định phân tích các nguyên nhân, và nhất là phê phán một ai hay một điều gì. Cho riêng tôi, tôi chỉ muốn dựng lại cái thế giới khốn đốn đã bao trùm tôi cho đến ngày nay. Tôi chỉ muốn mô tả một hiện tượng xã hội hoàn toàn thân thuộc mà thôi.

    Tiểu thuyết là tưởng tượng, ai cũng biết vậy, nhưng có tưởng tượng nào không bắt nguồn từ một phần sự thật?

    Sở dĩ tôi trình bày như vậy, là để xin những người thân thích của tôi, nếu có dịp tình cờ nào đọc quyển truyện này, hãy rộng lòng tha thứ cho tôi”.


    Còn sau đây là 3 tập truyện ngắn của chị Thụy Vũ:

    1. Tập Mèo Đêm: Khi tập truyện này do nhà Thời Mới của nhà văn Võ Phiến xuất bản thì chỉ có 4 truyện ngắn: hai truyện “Một Buổi Chiều”, “Đợi Chuyến Đi Xa” nói về tâm trạng ray rứt, thèm thuồng tình yêu lẫn tình dục của một cô gái già; hai truyện “Mèo Đêm” và “Nắng Chiều Vàng” nói về các cô bán bar dan díu với bọn lính Mỹ. Khi được nhà xuất bản Kim Anh tái bản thì có thêm 2 truyện “Bóng Mát Trên Đường” và “Miền Ngoại Ô Tình Lẻ”. Hai truyện này nói lên niềm cô đơn của tác giả được thể hiện qua hai nhân vật nữ, văn chương êm dịu, đôi lúc thơ mộng nhưng có khi lại le lói mầm mống nổi loạn.

    2. Tập Lao Vào Lửa:
    Viết về nếp sinh hoạt của các cô gái điếm trá hình làm chiêu đãi viên trong các snack bar. Như phần bên trên đã nói, hai truyện “Chiếc Giường” và “Lao Vào Lửa” lấy bối cảnh tại một snack bar ở Sài Gòn, còn truyện “Đêm Nổi Lửa” lấy bối cảnh ở nhà thương khám bệnh hoa liễu mà thời đó gọi là Nhà thương Bạc Hà. Nhân vật chính bị bắt đi “lục-xì” (look and see) tức đi khám bệnh xem có vi trùng giang mai hay không, và bị giam lỏng trong nhà thương đó. Muốn thoát ra khỏi nhà thương, đương sự thông đồng với mấy người đồng cảnh ngộ bị giam và người tình ở bên ngoài. Đợi tới đêm giáp Tết, cả bọn nổi lửa gây hỏa hoạn để thừa lúc hỗn loạn chạy ra ngoài. Các cô chạy thoát nhưng rách te tua do leo qua hàng rào, nhiều cô trầy sứt và chỉ còn chiếc quần xi-líp.

    3. Tập Chiều Mênh Mông: Gồm truyện “Chiều Mênh Mông” (cùng tựa với tập truyện), mô tả tâm trạng của những nhân vật cô đơn. Truyện “Tiếng Hát” mô tả sự bỡ ngỡ của cô thiếu nữ lạc loài theo kiểu tha phương cầu thực. Tình cờ cô bước vào cái xã hội văn nghệ sĩ thời thượng và chịu ăn nằm với một chàng du ca mà không nghĩ sự dan díu đó sẽ đi tới đâu sau cuộc làm tình không mấy hào hứng. Truyện “Lìa Sông” là lời kể của một cô giáo làng mô tả về chuyện dạy dỗ và thân phận hẩm hiu của mình trong khi cô đủ cả công dung ngôn hạnh. Cuối cùng, cô may mắn có được tấm chồng và sống hạnh phúc. Truyện “Cây Độc Không Trái” mô tả cô gái bán bar đi phá thai. Cách phá thai được tác giả trình bày chi tiết khiến người đọc rùng mình. Rồi tác giả mô tả luôn mặc cảm phạm tội của cô gái cùng cái ý tưởng lo sợ mai sau cô sẽ tuyệt tự. Truyện “Trôi Sông” và truyện “Đêm Tối Bao La” với bút pháp dữ dằn, cốt truyện phanh phui tàn nhẫn cái bản năng giông bão của những hạng cùng đinh trong xã hội.

    Sau 1975, chị Thụy Vũ thôi không viết lách gì nữa, chỉ buôn bán lặt vặt, kể cả làm lơ xe đò để có tiền nuôi 3 đứa con nhỏ dại có với nhà thơ Tô Thùy Yên. Đời sống quá khổ cực, nhờ bà mẹ cho một khu đất rừng trồng cà phê ở Lộc Ninh, chị bán căn nhà ở Làng Báo Chí được mấy chỉ vàng, cộng với chút ít vốn liếng đã tích cóp được, lên Lộc Ninh dựng căn nhà chòi, mua được hai con bò và mấy con dê, trồng trọt rau cỏ, trông nom cà phê, đời sống hết sức khốn quẫn.

    Sau, có một nhà văn (tôi không nhớ rõ tên), từ bên Mỹ về, lên thăm, thấy chị khổ cực quá nên khi trở lại Mỹ, viết bài “Thụy Vũ chăn dê” (lấy tích Tô Vũ chăn dê trong truyện Chiêu Quan cống Hồ đời Tống bên Tàu), đăng lên các báo bên ấy. Các văn hữu và nhiều độc giả ở Mỹ biết tin, gom góp nhau gửi tiền về giúp đỡ. Được sự trợ giúp, chị bán dê, bán bò, mua được một miếng đất gần đường nhựa (từ phía Lộc Ninh đi xuống), xây được căn nhà cấp 4 nho nhỏ, mái lợp tôn, có giếng nước, đời sống cũng tạm ổn định.



    Từ thời còn con gái, làm nghề viết văn và dạy học, chị Thụy Vũ chung sống với nhà thơ Tô Thùy Yên, sinh được 3 con, hai gái, một trai. Cháu lớn tên Khôi Hạnh. Cháu trai tên Khôi Hạo. Cháu gái nhỏ nhất tên Khôi Thụy (sinh năm 1973). Nhưng chẳng may, cháu Thụy lúc mới chưa đầy 2 tuổi, chị người làm không cẩn thận khiến cháu bị té ngửa từ trên giường xuống nền gạch, chấn thương sọ não rất nặng. Suốt bao nhiêu năm nay cháu sống đời sống thực vật, chỉ nằm một chỗ, u mơ không biết gì hết.

    Nhà văn Văn Quang cho biết, vào những năm tháng đầu sau biến cố tháng 4-1975, có một thời gian tác giả “Chiều xuống êm đềm” đã phải làm lơ xe đò, chạy đường Sài Gòn-Thủ Đức. Suốt ngày chị chỉ đứng một chân… Tới khi kiệt sức, không kham nổi nữa, chị đem con cái về Lộc Ninh. Chốn ở mới của chị là một nơi “không có điện, không có nước, Thụy Vũ và các con sống như người rừng!”

    Sau đây là lời kể của nhà văn Văn Quang, để bạn đọc biết rõ thêm về tình mẫu tử của chị Thụy Vũ (trong lời kể có nhân vật tên “Ngân”, đó là chị Văn Quang):

    “Suốt ngày hôm đó, cái hình ảnh cháu Khôi Thụy ám ảnh tôi không rời. Buổi trưa tôi ngồi với Ngân ngay trên sàn gạch nhà ngoài. Tôi nghe phòng bên văng vẳng tiếng cười rúc rích của Thụy Vũ, tiếng chị nựng nịu, tiếng nước chảy ào ào rửa nhà và tiếng hát ru của chị vẳng lên giữa núi rừng. Tôi có cảm tưởng như chị sống rất hồn nhiên, vui vẻ bên đứa con thơ hai ba tuổi. Càng nghe chị cười, chị thủ thỉ với con, tôi càng thấy nghẹn ngào. Đôi mắt Ngân chớp mau, cô nói như để che lấp nỗi lòng mình:

    – “Anh thấy không, đó là nét đặc biệt nhất của Thụy Vũ. Chị luôn coi đứa con chị như khi còn hai tuổi và chị cứ hình dung cháu không hề bị bệnh, chị vẫn nựng nịu cháu, cười đùa hồn nhiên với cháu. Có miếng gì ngon chị cũng để phần cho cháu, dù chị biết rõ hơn ai hết rằng nó không hề phân biệt được cái gì là thức ăn chứ đừng nói đến ngon dở. Nhưng đó là tấm lòng bao la của người mẹ…”

    – “Phải nói rằng đó là một người mẹ tuyệt vời và một tấm lòng can đảm vô bờ bến…”.

    Vâng, đúng như thế, chị Thụy Vũ là một người trầm lặng, ít nói nhưng hết sức can đảm. Có một điều ít ai để ý rằng, tuy chung sống với nhà thơ Tô Thùy Yên khi anh đã có người vợ chính thức là cô giáo Huỳnh Diệu Bích và các con, thời gian chung sống chỉ 5-6 năm nhưng sau 1975, anh bị đi cải tạo 10 năm, được thả về rồi lại bị bắt lại, ở tù thêm 3 năm do có tập thơ “chống cộng” ai đó xuất bản ở bên Mỹ, từ đấy đến nay chị vẫn sống thầm lặng một cách hết sức khó khăn để lo cho các con, không “bước đi bước nữa” hoặc quen biết với ai khác. Tôi nghĩ tình yêu của chị đối với anh Tô Thùy Yên rất lớn và chị là người đàn bà chung thủy, tuy nghèo cùng cực nhưng lòng chị vững như đá núi.

    Về phần Tô Thùy Yên, anh là một nhà thơ nổi tiếng trước năm 1975, tác giả bài thơ được Trần Thiện Thanh phổ nhạc Chiều Trên Phá Tam Giang.

    Anh tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp. Cha là chuyên viên phòng thí nghiệm Viện Pasteur, sau về công tác ở Bệnh viện Chợ Rẫy.

    Thuở nhỏ Tô Thùy Yên học trung học tại trường Petrus Ký, đậu xong tú tài, học Đại học Văn khoa Sài Gòn ban Văn chương Pháp, đang học thì bị động viên đi sĩ quan Thủ Đức, ra thiếu úy (lúc đó chưa có cấp bậc chuẩn úy) rồi được bổ về một đơn vị tác chiến thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Anh ăn nói giỏi, đọc nhiều, tư tưởng chính trị rất cao nên anh em vận động bốc thẳng anh từ Vùng IV Chiến Thuật về trung ương để làm trong ngành Tâm lý chiến (lúc đó chưa đổi tên thành Chiến tranh chính trị) và có phương tiện hoạt động văn nghệ.

    Tô Thùy Yên bắt đầu có thơ đăng trên báo Đời Mới trước khi hiện diện và nổi tiếng trên tạp chí Sáng Tạo: Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các họa sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng, là những nhân vật nòng cốt trong nhóm Sáng Tạo, một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh “Thơ Tự Do” trên văn đàn miền Nam vào khoảng thập niên 1960.

    Sau 30/4/1975, với cấp bậc cuối cùng là Thiếu tá trưởng phòng Chiến tranh chính trị QĐVNCH, anh bị đi cải tạo 10 năm, được thả về rồi lại bị đi tù 3 năm, tổng cộng là gần 13 năm.

    Cuối năm 1993, anh cùng người vợ chính thức là cô giáo Huỳnh Diệu Bích và các con sang Mỹ định cư theo diện HO, hiện nay đang ở Houston, tiểu bang Texas.

    Nói chung, về tình trạng của chị Thụy Vũ hiện nay, chị có 3 người con thì cháu Khôi Hạnh lấy chồng ở Long An, đời sống êm ấm, hạnh phúc nhưng vì đông con nên cũng không giúp gì được cho mẹ. Cháu Khôi Hạo đã có gia đình, có một con trai, trước đây làm nghề nuôi cá cảnh để bán và viết văn theo cái “gien” của bố và mẹ, cũng kiếm được đồng tiền nhưng không hiểu sao tự nhiên cháu đi tu (Phật giáo), để vợ con cho mẹ lo. Còn cháu thứ ba, Khôi Thụy, thì vẫn sống đời sống thực vật, u mơ không biết gì hết như cũ.

    Năm nay chị Thụy Vũ đã 78 tuổi ta (chị sinh năm 1937), tất cả sự sống gia đình đều trông mong vào mấy con cá kiểng do vị “tu sĩ Phật giáo” truyền lại cho mẹ và mỗi tháng 100 đô-la do cháu Đinh Quỳnh Giao, bác sĩ bên Mỹ, con gái của anh chị Tô Thùy Yên gửi về giúp đỡ. Cháu Đinh Quỳnh Giao rất thương xót đứa em cùng cha khác mẹ tên Nguyễn Khôi Thụy đang nằm liệt giường. Mỗi tháng cứ đến khoảng 27, 28 là cháu gửi $100 về cho em. Ở cái xứ Lộc Ninh nghèo nàn ấy, có mấy người mua cá kiểng đâu, nếu mỗi tháng không có $100 của người chị, con gái anh Tô Thùy Yên từ bên Mỹ gửi về giúp đỡ, thì không biết cái gia đình của nhà văn nữ đã một thời nổi tiếng Nguyễn Thị Thụy Vũ – người đã từng đoạt giải Văn học toàn quốc năm 1971 – sẽ sống ra sao.

    Đoàn Dự ghi chép
    _http://cotab.com/forums/yaf_postst15030_Doi-net-ve-nha-van-Nguyen-Thi-Thuy-Vu.aspx

    Last edited by Đỗ Phương Khanh; 11-18-2014 at 19:57.

  6. Thanks marseille thanked for this post

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 12-15-2011, 21:08

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •